Bỏ qua nội dung

Thị trường tự do có làm băng hoại các giá trị đạo đức hay không? 1

Tháng Bảy 14, 2011

Đây là cuộc thảo luận do Quĩ JOHN TEMPLETON FOUNDATION tổ chức. Vấn đề được đem ra bàn thảo là: Chủ nghĩa tư bản có là hệ thống dã man và phi đạo đức, đấy là nơi mà mỗi người đều chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình? Liệu xã hội tư bản chủ nghĩa có dứt khoát dẫn tới suy thoái đạo đức hay không? Thị trường tự do có tương thích với các giá trị đạo đức hay không,? Một số nhà kinh tế học, triết học và chính khách có tiếng của Mĩ và Nga đã tham gia cuộc thảo luận. Ý kiến của họ rất đa dạng, VCV sẽ lần lượt giới thiệu liên tục trong 6 ngày tới. Phạm Nguyên Trường dịch

Ayaan Hirsi Ali – Hoàn toàn không

Thật khó có sự đồng thuận về vấn đề đạo đức là gì chứ chưa nói đến cái gì làm băng hoại đạo đức. Người có đạo coi đức hạnh là khả năng tuân thủ những điều răn của Chúa Trời của mình. Người theo trường phái xã hội chủ nghĩa có thể coi đức hạnh là sự trung thành với tư tưởng tái phân phối tài sản. Còn người theo trường phái tự do – ý tôi là những người theo trường phái tự do cổ điển như Adam Smith hay Milton Friedman, chứ không phải người theo trường phái tự do ủng hộ việc mở rộng vai trò của chính phủ kiểu Mĩ hiện nay – có thể là người có đạo và nhận thức được ưu điểm của sự bình đẳng về thu nhập, nhưng bao giờ cũng coi tự do là ưu tiên hàng đầu. Tôi ủng hộ cách hiểu về đạo đức như thế.

Theo trường phái này, tự do của cá nhân là mục tiêu cao nhất, và khả năng của một người trong việc theo đuổi những mục tiêu mà anh ta lựa chọn mà không xâm phạm vào quyền tự do theo đuổi mục đích sống của những người khác chính là thử thách cao nhất đối với tính cách của người đó. Quan điểm đó cho rằng tự do hoạt động kinh tế của từng cá nhân, công ty hay quốc gia sẽ thúc đẩy những phẩm chất đáng quí như lòng tin, tính trung thực và tinh thần cần cù lao động. Người sản xuất buộc phải liên tục cải thiện chất lượng hàng hóa và dịch vụ. Thị trường tự do thiết lập chế độ trọng dụng nhân tài và tạo cơ hội cho những người chăm học ngay từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường tìm được việc làm tốt nhất. Cơ chế này cũng khuyến khích phụ huynh đầu tư nhiều thời gian và tiền bạc hơn cho việc học tập của con cái. Còn người sản xuất thì đầu tư cho quá trình nghiên cứu và cải tiến nhằm đánh bại đối thủ trên thương trường.

Muốn đánh giá xem thị trường tự do củng cố các giá trị đạo đức đến mức nào thì chỉ cần xem những hệ thống kinh tế cản trở hoặc công khai bác bỏ quan hệ thị trường thì sẽ thấy. Thí dụ như ở những nơi mà chủ nghĩa cộng sản đã được đem ra thử nghiệm, kết quả không chỉ là nạn tham nhũng và chất lượng hàng hóa thấp mà còn là nỗi sợ hãi, thái độ bàng quan, ngu dốt, áp bức và chẳng ai còn tin ai. Liên Xô và Trung Quốc trước cải cách là những nước đã bị phá sản cả về mặt kinh tế lẫn đạo đức.

Hoặc lấy thí dụ như chế độ phong kiến mà điển hình là Saudi Arabia. Ở đấy có một ông vua chuyên chế, một hệ thống tăng lữ góp phần củng cố thế lực cho vương triều và một vài giai tầng nô lệ: nhóm người thiểu số Shí’a bị đàn áp, công nhân nhập cư và phụ nữ – họ thường bị nhốt riêng và bị lạm dụng – bị bóc lột một cách dã man. Tình trạng trì trệ và áp bức ở Saudi làm cho nó trở thành tuyệt đối phi đạo đức trong mắt những người theo trường phái tự do cổ điển. Khác với chủ nghĩa cộng sản, chế độ này thậm chí không thể dùng cái lá nho gọi là “sự công bằng” để che đậy sự thực bất công của nó.

Thị trường tự do cũng có những khiếm khuyết về mặt đạo đức. Tôi có thể hiểu vì sao những người chỉ trích thấy khó mà có thể coi hệ thống thị trường – nơi mà các cô gái chỉ cần lắc mông và líu lo những bài hát rẻ tiền trên TV là đã có thể kiếm được bộn tiền hay những chàng trai trẻ cực kì giàu có chỉ vì họ, trong cơn say ma túy, có thể nhảy hip-hop một cách điên loạn – là hệ thống đức hạnh. Cuộc tranh luận còn diễn ra giữa những người ủng hộ thị trường tự do tuyệt đối và những người cho rằng nhà nước phải giám sát những dịch vụ quan trọng như y tế và giáo dục.

Theo tôi, mức độ bao cấp của chính phủ trong các nước phương Tây là quá rộng và phi hiệu quả – nó cản trở sáng kiến và khuyến khích thói dựa dẫm, khuyến khích người ta trở thành những kẻ lười biếng và phụ thuộc vào chính phủ trong những việc mà họ có thể (và phải) tự làm lấy. Trong xã hội thị trường tự do – nơi mà quyền tự do được coi là quan trọng nhất – con người thể hiện nhiều khả năng sáng tạo và sáng kiến hơn; còn trong các nhà nước phúc lợi xã hội, nơi mà người ta quan tâm nhiều hơn tới sự bình đẳng thì sự tháo vát vốn có của con người thường bị triệt tiêu. Muốn thành công người ta phải tìm cách “dựa vào hệ thống” chứ không phải là sản xuất món hàng có chất lượng cao hơn. Người ta tìm cách tránh mạo hiểm và tránh trách nhiệm cá nhân. Mặc dù nhìn bên ngoài thì hệ thống này có vẻ công bằng, nhưng trên thực tế nó lại khuyến khích sự tầm thường và thói quen coi xã hội phải có trách nhiệm đối với mình, và làm nản lòng những người muốn thành công.

Hiện nay xã hội thị trường tự do đang bị các nhà môi trường phê phán quyết liệt vì họ cho rằng nó sẽ phá hủy hành tinh của chúng ta. Nhưng cuộc thảo luận sôi nổi về quá trình ấm lên toàn cầu và hậu quả mang tính đạo đức của chất thải và ô nhiễm môi trường lại chỉ xuất hiện trong những xã hội tự do về mặt chính trị mà thôi. Hơn nữa, trong khi chính phủ thảo luận về việc liệu quá trình nóng lên toàn cầu có phải là do con người gây nên hay không thì những người làm kinh tế đã bắt đầu đưa những mối lo lắng này vào sản phẩm và những khoản đầu tư của họ rồi. Họ bắt đầu thực hiện những biện pháp nhằm sản xuất ra các loại xe tốn ít nhiên liệu hơn và đã tạo ra những hệ thống sử dụng năng lượng thay thế hợp với túi tiền của người tiêu dùng. Đối với một bộ phận người tiêu dùng thì sản phẩm “xanh hơn” đã có sức mạnh nhất định. Các công ty và các hãng xưởng làm như thế là vì họ là những người làm kinh tế theo lối duy lí. Các công ty cung cấp sản phẩm “xanh hơn” có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn là những công ty coi thường ý nghĩa đạo đức của việc bảo vệ môi trường.

Người giàu bao giờ cũng là những kẻ tham lam hay không? Ở Mĩ có nhiều người giàu thiếu tư cách và không có trách nhiệm. Nhưng cũng có nhiều người rất nhân đức, và trên thực tế là nhờ có một số người cực kì giàu có ở đây mà xã hội đã nhận thức rõ hơn về cuộc chiến chống lại các bệnh truyền nhiễm khác nhau. Thí dụ mục tiêu quét sạch bệnh sốt rét đã thành công phần lớn là nhờ các nhà đầu tư tư nhân chứ không phải là các chính phủ và các quan chức Liên hiệp quốc.

Ngòai ra, những người đàn ông và đàn bà gặp may mắn này còn tự hào vì những đóng góp trong lĩnh vực văn hóa như thành lập các thư viện, viện bảo tàng, tổ chức các buổi hòa nhạc, và thời gian gần đây là góp phần làm cho thế giới sạch hơn. Lòng bác ái của các cá nhân đặc trưng cho nước Mĩ có thể là do tính chất của hệ thống thuế khóa của nước này, nhưng điều này tự nó cũng rất đang quan tâm: so với bộ máy quan liêu cồng kềnh của các tổ chức quốc tế họat động bên cạnh các chính phủ nhằm cải thiện phúc lợi xã hội thì thị trường tự do được tổ chức một cách chặt chẽ có thể có hiệu quả hơn.

Đối với những người tìm kiếm sự hoàn hảo về mặt đạo đức và xã hội hoàn hảo thì thị trường tự do không phải là đáp án. Nhưng kinh nghiệm lịch sử cho thấy việc tìm kiếm những xã hội hoàn hảo – nghĩa là không có khả năng công nhận sự bất toàn của con người – hầu như bao giờ cũng kết thúc bằng nền chính trị thần quyền, chế độ độc tài hoặc nạn bạo hành vô chính phủ. Nhưng nếu ta tìm cách làm việc với những người còn có đủ các thứ khiếm khuyết khác nhau nhằm thúc đẩy hạnh phúc cho mỗi cá nhân thì thị trường tự do cùng với các quyền tự do chính trị là biện pháp hữu hiệu nhất.

Mĩ là đất nước chưa hoàn hảo, xô bồ, đôi khi còn suy đồi nữa và thường tỏ ra lỗ mãng trước những người yếu đuối hơn. Nhưng tiêu chuẩn đạo đức của nước này vẫn cao hơn hẳn tiêu chuẩn đạo đức của tất cả các siêu cường từng tồn tại trong lịch sử.

Ayaan Hirsi Ali sinh ở Somalia, di cư sang Hà Lan vào năm 1992 và trở thành nghị sĩ của nước này từ năm 2003 đến năm 2006. Hiện bà là cộng tác viên khoa học của Viện kinh doanh Mĩ (American Enterprise Institute) vã đã xuất bản một bestseller với tên gọi Kẻ bỏ đạo (Infidel).

Jagdish Bhagwati – Ngược lại

Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi có thể chứng thực rằng nếu bạn định nói về thị trường tự do trong khuôn viên đại học trong những ngày này thì bạn sẽ bị chôn sống trong một loạt những lời chỉ trích quá trình toàn cầu hóa. Sự phản đối việc mở rộng thị trường quốc tế xuất phát từ lòng vị tha của các giáo sư và sinh viên. Đấy là chủ yếu là do những lo lắng về những vần đề đạo đức và xã hội mà ra.  Nói một cách đơn giản: họ tin rằng toàn cầu hóa không có bộ mặt con người. Tôi lại có quan điểm hoàn toàn ngược lại. Theo tôi, toàn cầu hóa không chỉ dẫn đến sản xuất và lan truyền của cải mà còn tạo ra những kết quả trong lĩnh vực đạo đức, góp phần củng cố đức hạnh của những người tham gia vào quá trình toàn cầu hóa.

Nhiều người phê phán tin rằng toàn cầu hóa cản trở việc giải quyết những vấn đề đạo đức và xã hội, thí dụ như giảm tỉ lệ lao động trẻ em và xóa đói giảm nghèo ở những nước nghèo, thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ môi trường trên toàn thế giới. Nhưng khi khảo sát các vấn đề này trong tác phẩm của tôi dưới đầu đề: Bảo vệ toàn cầu hóa (In Defense of Globalization), tôi lại tìm thấy những kết quả hoàn toàn ngược lại với những vấn đề làm người ta sợ hãi đó.

Thí dụ, nhiều người tin rằng những người nông dân nghèo khó sẽ phản ứng lại với những cơ hội kinh tế tốt hơn do quá trình toàn cầu hóa mang lại bằng cách bắt con em phải làm việc chứ không cho đi học nữa. Nếu đặt vấn đề như thế thì mở rộng thị trường tự do sẽ có tác động như là lực lượng tiêu cực. Nhưng tôi nhận thấy rằng ngược lại mới đúng. Hóa ra là trong đa số trường hợp, thu nhập gia tăng do quá trình toàn cầu hóa mang lại – thí dụ như thu nhập từ lúa gạo tăng lên ở Việt Nam – khuyến khích cha mẹ cho con đến trường. Sau hết, họ cũng không cần khoản thu nhập ít ỏi mà lao động của trẻ em có thể đem về nữa.

Hay vấn đề bình đẳng giới. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, các ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt hơn. Trong nhiều nước đang phát triển chính sự cạnh tranh như thế đã làm giảm khoảng cách thu nhập quá lớn giữa lao động có tay nghề của phụ nữ và đàn ông. Vì sao? Vì những hãng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu sẽ nhanh chóng nhận ra rằng họ không thể cứ sống mãi với định kiến trọng nam khinh nữ được nữa. Do áp lực giảm giá thành và hoạt động hữu hiệu hơn, càng ngày người ta càng thuê ít lao động đàn ông lương cao và thuê thêm nhiều lao động nữ lương thấp hơn, và như vậy là lương phụ nữ tăng lên và lương đàn ông giảm xuống. Hiện nay toàn cầu hóa chưa tạo được sự bình đẳng về tiền công, nhưng chắc chắn là nó đã làm giảm khoảng cách giữa đàn ông và đàn bà trong lĩnh vực này.

Có nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng Ấn Độ và Trung Quốc – hai nước với những vấn nạn nghèo khó chồng chất – có thể phát triển nhanh như thế là nhờ họ đã lợi dụng được nền ngoại thương và đầu tư nước ngoài, và bằng cách làm như thế họ đã giảm đáng kẻ tình trạng nghèo đói. Họ còn phải đi một đoạn đường dài, nhưng quá trình toàn cầu hóa đã tạo điều kiện cho họ cải thiện điều kiện vật chất cho hàng trăm triệu người dân của họ. Một số người phê phán phủ nhận ý tưởng tấn công đói nghèo thông qua phát triển kinh tế, họ gọi đấy là chiến lược bảo thủ “vắt cổ chày từ trên xuống”. Họ tưởng tượng ra hình ảnh của những nhà quí tộc và tư sản phàm ăn, béo hú, ăn hết cả một con cừu trong khi kẻ hầu người hạ và mấy con chó dưới gầm bàn chỉ được gặm xương và mấy mẩu thức ăn thừa mà thôi. Nói đúng ra, khuyến khích phát triển phải được coi là chiến lược “kéo người nghèo lên”. Các nền kinh tế đang phát triển “kéo” người nghèo lên những công việc có thu nhập cao hơn và giảm được tình trạng nghèo khó.

Ngay cả khi đã công nhận rằng nói chung toàn cầu hóa giúp người ta đạt được một số mục đích xã hội nhất định thì một vài người phê phán vẫn biện luận rằng nó sẽ làm băng hoại các giá trị đạo đức. Họ bảo rằng việc mở rộng thị trường tự do cũng đồng nghĩa với việc mở rộng lĩnh vực có thể săn tìm lợi tức, mà chạy theo lợi nhuận lại làm cho con người trở thành ích kỉ và tội lỗi. Nhưng đấy là chuyện thật khó tin. Chỉ cần nhớ lại những người thị dân theo đạo Tin lành được Simon Schama mô tả trong cuốn sách viết về lịch sử Hà Lan thì sẽ rõ. Họ tạo dựng cơ đồ từ ngành ngoại thương, nhưng họ lại là những người có lòng vị tha chứ không phải chỉ muốn ăn cho ngon, họ luôn thể hiện thái độ mà Schama gọi một cách chính xác là “sự ngượng ngịu của người giàu”. Ta cũng có thể thấy thái độ tự chế như thế ở những người theo đạo Jains thuộc bang Gujerat, Ấn Độ, quê hương của Mahatma Gandhi. Tiền tài mà người theo đạo Jain thu được trong hoạt động kinh doanh được dùng để tôn vinh những giá trị tâm linh của họ chứ không phải ngược lại.

Còn nói về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với đức hạnh, xin được trích dẫn ý kiến cực kì sâu sắc của John Stuart Mill. Ông đã viết trong tác phẩm Những nguyên lí của kinh tế chính trị học (Principles of Political Economy) (năm 1848) như sau:

Lợi thế kinh tế do ngành thương mại đem lại không quan trọng bằng những hậu quả mang tính trí thức và đức hạnh. Trong tình hình khi mà con người còn chưa hoàn hảo như hiện nay, thật khó đánh giá hết được lợi ích của việc tạo điều kiện để người ta tiếp xúc với những người khác với mình, tiếp xúc với những cách suy nghĩ và hành động khác với cách tư duy và hành động quen thuộc với mình…  Không có dân tộc nào không cần vay mượn ở những dân tộc khác, không chỉ những ngành nghề hay cách làm mà còn cả những phẩm chất quan trọng mà họ chưa bằng nữa…. Có thể nói mà không sợ quá là việc mở mang và phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực ngoại thương – là bảo đảm quan trọng nhất đối với hòa bình thế giới – là căn cứ vững chắc cho sự tiến bộ không bao giờ gián đoạn của tư tưởng, của các định chế và phẩm chất của nhân loại.”

Chúng ta vẫn còn thấy những biểu hiện của các hiện tượng mà Mill mô tả trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Trong những năm 1980, khi các công ty đa quốc gia của Nhật vươn ra bên ngoài, các nhà quản lí của họ mang vợ con tới New York, London và Paris. Và khi những người phụ nữ Nhật Bản truyền thống nhìn thấy cách thức đối xử với phụ nữ ở phương Tây thì họ cũng tiếp thu những ý tưởng về quyền của phụ nữ và quyền bình đẳng. Khi trở về Nhật, họ trở thành những tác nhân của các cuộc cải cách xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, TV và mạng Internet đóng vai trò cực kì to lớn trong việc truyền bá nhận thức về đạo đức và xã hội ra khỏi biên giới của cộng đồng và biên giới quốc gia.

Adam Smith đã từng viết một đoạn văn nổi tiếng về “con người nhân ái ở châu Âu”, anh ta sẽ không thể nào “chợp mắt được đêm nay” nếu biết rằng “ngày mai anh ta sẽ bị mất một ngón tay út”, nhưng sẽ “ngủ ngon lành” nếu biết rằng hành trăm triệu người Trung Quốc anh em với anh ta “bất ngờ trở thành nạn nhân của một trận động đất” vì anh ta “chưa bao giờ gặp họ”. Đối với chúng ta, người Trung Quốc đã không con là những người vô hình nữa, họ đã không còn sống ở bên lề của cái mà David Hume gọi là những vòng tròn đồng tâm của lòng bác ái của chúng ta nữa. Trận động đất mùa hè vừa qua ở Trung Quốc – hậu quả bi thảm của nó đã ngay lập tức được đưa lên màn ảnh của chúng ta – đã được toàn thế giới đón nhận không phải với thái độ bàng quan mà với một sự đồng cảm và ý thức trách nhiệm sâu sắc trước các nạn nhân người Trung quốc. Đấy chính là giây phút tuyệt vời nhất của tòa cầu hóa

Jagdish Bhagwati là giáo sư về luật và kinh tế học ở đại học Columbia (Columbia University), chuyên viên cao cấp tại Hội đồng quan hệ đối ngoại (Council on Foreign Relations), đã xuất bản tác phẩm In Defense of Globalization. Ông viết nhiều về chính sách công và thương mại quốc tế.

Phạm Nguyên Trường
Nguồn: vanchuongviet.org

Advertisements

From → Thảo luận

Gửi bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: