Skip to content

Thị trường tự do có làm băng hoại các giá trị đạo đức hay không? 4

Tháng Bảy 17, 2011

Kay S. Hymowitz: Có, rất hay xảy ra

Sự kiện là thị trường tự do tán dương chủ nghĩa khoái lạc và tinh thần tự chủ đã tạo ra những ảnh hưởng có thể đoán trước được đối với những người ít học – người nghèo và gần đây là cả giai cấp công nhân nữa. Trong những cộng đồng có thu nhập thấp, cuộc tấn công vào tính tự chế và lòng trung thành trong các mối quan hệ cá nhân đã làm suy yếu cả những gia đình hạt nhân lẫn gia đình mở rộng. Trong nhiều cộng đồng như thế, li dị và sinh con ngoài giá thú đang trở thành hiện tượng tự nhiên.

Các nhà phê bình đã nhận xét rất đúng rằng thị trường tự do làm suy yếu những phong tục truyền thống, mang tính địa phương, mà người dân vẫn dùng để duy trì đạo đức và truyền lại cho thế hệ sau.  Xin hãy xem xét trải nghiệm của trẻ con. Trẻ con học những bài học đạo đức đầu tiên từ trong gia đình, tức là từ những người mà chúng có những quan hệ gắn bó nhất về mặt tình cảm. Tình yêu gắn bó trẻ con với những qui tắc đạo đức và đánh thức những xúc cảm đạo đức quan trọng nhất như sự đồng cảm và tội lỗi. Trong các xã hội tiền công nghiệp, những tập quán đạo đức này được bộ lạc, làng xóm cũng như các định chế tôn giáo và truyện kể dân gian củng cố thêm. Đứa trẻ đang lớn được bao bọc bởi “tổ chức bí mật” của những ông thầy đức dục, tức là những người trình bày những bài học về cách sống bằng lời và (đôi khi) bằng hành động nữa.

Kinh tế thị trường ảnh hưởng tiêu cực đối với  “tổ chức bí mật” về văn hóa này theo ba cách sau đây.

Thứ nhất, nó giúp người ta tiếp xúc với những điều mới mẻ, thách thức các truyền thống văn hóa và giá trị đạo đức cũ.

Thứ hai, nó khuấy động những ước muốn của người ta – nhờ đó mà thị trường mới hưng thịnh được – biến chúng thành tác nhân dễ dàng làm suy giảm khả năng tự chế và trách nhiệm đạo đức. (Nhà xã hội học Daniel Bell có câu nói nổi tiếng rằng thị trường có thể cáo chung bằng cách ăn thịt nền tảng đạo được của chính mình).

Và thứ ba,  cùng với sự phát triển, có vẻ như kinh tế thị trường càng ngày càng đối xử với đứa trẻ còn đang lớn như là đối xử với một người đã có thể tự chủ, như với một tác nhân đã trưởng thành chứ không phải như với một “nhóc tì”.

Kết quả là từ một đứa học trò dễ bảo, đang phải tiếp thu những giá trị đạo đức, trẻ con trở thành người đa nghi, thậm chí thành một kẻ phản kháng không coi ai ra gì.

Hai sản phẩm được phát minh và có ảnh hưởng mạnh nhất trong thế kỉ XX là ô tô và vô tuyến truyền hình có thể được coi là những thí dụ điển hình về khả năng phá hoại của thị trường đối với sự đồng thuận về mặt đạo đức và lòng trung thành của cá nhân. Ô tô làm cho người ta dễ dàng di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác và vì vậy mà đã làm suy yếu ảnh hưởng của cộng đồng địa phương và những tiêu chuẩn đạo đức của họ. Nhờ có ô tô người cha có thể đi làm xa nhà và vì thế sự chia tách giữa công việc và đời sống gia đình cũng diễn ra nhanh hơn. Nói cho ngay, sự phát triển của thị trường là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến “những lĩnh vực tách biệt nhau”, kết quả là bà mẹ trở thành nội tướng còn ông bố thì là người đi làm ăn xa.

Ô tô còn làm cho các thành viên trong gia đình mỗi người tản mác một phương (cô chú ở California, còn ông bà thì ở tận Florida), mà trước kia đấy chính là những người giúp cho trẻ em nâng cao nhận thức về mặt đạo đức. Nó tạo điều kiện cho người ta trở thành những kẻ “nặc danh”, kết quả là người ta không còn cảm thấy xấu hổ và ngượng ngùng khi có những hành động vi phạm đạo đức nữa; đặc biệt là các thanh niên mới lớn, họ có thể tránh được ánh mắt chê trách của người lớn. Trong những năm đầu thế kỉ XX một vị thẩm phán chuyên trách các vụ án người vị thành niên khi nhận xét về cách giới trẻ sử dụng phát minh mới đã gọi loại xe không cần ngựa kéo này là “nhà thổ trên những bánh xe”.

Ảnh hưởng tiêu cực đối với lĩnh vực văn hóa của truyền hình, và đặc biệt là của quảng cáo, còn đáng ngại hơn là ô tô. Trước khi có màn ảnh nhỏ, các gia đình có thể tiến hành việc giáo dục đạo đức mà không bị thương mại can thiệp vào. Nói theo lời của nhà xã hội học Christopher Lasch thì đời sống gia đình là “bến đỗ trong một thế giới nhẫn tâm”. Dĩ nhiên là những người bán hàng có thể đi đến thành phố X nào đó, nhưng họ phải gõ cửa và bày những món hàng trước người gác cổng, mà thường đấy lại chính là người mẹ trong gia đình. Truyền hình cho phép những người bán hàng đẩy cha mẹ sang một bên và ngồi xuống ngay bên cạnh đức trẻ chưa chín chắn về mặt đạo đức và tìm cách quyến rũ nó, trong khi đứa trẻ chưa biết cách tự vệ trước những khoái lạc mà họ bày ra ngay trước mắt. Nói chung, truyền hình thường sử dụng những câu chuyện tưởng tượng về sự báo thù, bạo lực, dâm loạn và thừa mứa về mặt vật chất nhằm lôi kéo người xem, già cũng như trẻ.

Hiện nay Internet đã hất cẳng được truyền hình và trở thành người bảo trợ chính cho chủ nghĩa khoái lạc, thái độ sùng bái vật chất và chủ nghĩa cá nhân vô chính phủ. Nếu như truyền hình còn có những người kiểm duyệt, dù vụng về đi nữa, thì những người đó cũng thể hiện được một sự đồng thuận nào đó về những ý tưởng có thể được nói một cách công khai, thì mạng toàn cầu không công nhận bất cứ hạn chế nào. Hơn nữa, nếu như ô tô có thể tạo cho người nhà quê khả năng trở thành “nặc danh” thì the Internet cho phép trẻ con bước ra khỏi những hạn chế mà đáng lẽ ra chúng phải tuân thủ. Biểu tượng rõ nhất của việc thị trường có khả năng biến trẻ con thành người lớn-giả, có khả năng hủy hoại uy tín của cha mẹ và thúc đẩy sự nặc danh đáng xấu hổ nói trên là cảnh một bé gái mười ba tuổi hẹn gặp với một người đàn ông bốn mươi tuổi trên Internet chat room trong khi cha mẹ cô bé tưởng rằng cô đang làm bài.

Nhưng không phải tất cả đều là xấu hết. Ngay cả khi thị trường có làm suy yếu các tiêu chuẩn của cộng đồng và đặt toàn bộ trách nhiệm trong lĩnh vực giáo dục đạo đức lên vai những người làm cha làm mẹ, trong khi tiếp tục tấn công trẻ con bằng những trò chơi như Kẻ đánh cắp ô tô (Grand Theft Auto) và cảnh sống xa hoa của Paris Hilton nhưng nó vẫn chưa biến chúng ta thành Gomorrah[1]. Theo các số liệu thống kê ở Mĩ, trong mấy thập kỉ gần đây tình trạng phi đạo đức của trẻ vị thành niên như bạo hành, lang chạ và thái độ chống đối người lớn đã giảm, mặc dù các phương tiện điện tử đã giúp khuếch trương ảnh hưởng của thị trường

Vì sao? Một trong những lí do là phụ huynh thuộc tầng lớp trung lưu đã phản ứng với sự quyến rũ của thị trường bằng cách để ý nhiều hơn đến con em của mình. Những cố gắng của họ đôi khi đã bị người ta chế nhạo – có đủ lí do để làm như thế. Nhưng sự bảo bọc quá đáng của phụ huynh là phản ứng có thể hiểu được trước tác động gây nhiễu do những cách tân của thị trường tự do gây ra. Sự bảo bọc như thế trên thực tế cũng chứng tỏ sự kiên cường – ít nhất là trong tầng lớp trung lưu – của gia đình tư sản, một kiểu gia đình đã tiến hóa nhằm đáp trả trước những thách thức của chủ nghĩa tư bản. Trong những cộng đồng, nơi mà những bà mẹ cũng đi làm còn họ hàng thì sống ở xa trong khi xung quanh toàn là người lạ và xe cộ, cha mẹ theo dõi con cái thông qua điện thoại di động, thông qua các chương trình ngoại khóa, thông qua các giáo viên và huấn luyện viên thể thao, và lạy Chúa tôi, thông qua cả những chương trình gián điệp trên Internet hoặc thậm chí thông qua cả mạng định vị toàn cầu nữa.

Phải công nhận rằng đạo đức của giới trẻ cũng được củng cố vì thị trường tự do thường xuyên khuyến khích người ta tính kỉ luật. Giới trẻ hiểu rằng muốn thành công trong nền kinh tế tri thức hiện nay thì phải học giỏi ngay từ trên ghế nhà trường. Mặc cho những cám dỗ của chủ nghĩa tiêu thụ, con em của giai cấp trung lưu và những đứa trẻ nhập cư đầy tham vọng đang lớn lên cùng với nhận thức rằng giáo dục là thành tố quyết định cho việc giữ gìn và cải thiện địa vị của họ và rằng cuộc cạnh tranh trong nền kinh tế trí thức là rất khốc liệt. Trong những ngày xa xưa, trẻ con thấm nhuần tinh thần đạo đức Tin lành, thường giúp đỡ cha mẹ và cố gắng ứng xử hợp đạo lí. Trẻ con ngày nay bị nhà trường nhồi sọ và đeo trên lưng những cái cặp nặng tới 40 pound.

Như vậy là những người phê phán sai ư? Không hoàn toàn như thế. Sự kiện là thị trường tự do tán dương chủ nghĩa khoái lạc và tinh thần tự chủ đã tạo ra những ảnh hưởng có thể đoán trước được đối với những người ít học – người nghèo và gần đây là cả giai cấp công nhân nữa. Trong những cộng đồng có thu nhập thấp, cuộc tấn công vào tính tự chế và lòng trung thành trong các mối quan hệ cá nhân đã làm suy yếu cả những gia đình hạt nhân lẫn gia đình mở rộng. Trong nhiều cộng đồng như thế, li dị và sinh con ngoài giá thú đang trở thành hiện tượng tự nhiên. Trong nền kinh tế thị trường đã phát triển, giáo dục đạo đức cho thế hệ sau là một công tác khó khăn, ngay cả trong những điều kiện thuận lợi nhất. Đối với một bà mẹ đơn thân, lại sống trong khu vực nghèo khổ, nơi mà trường không ra trường, lớp không ra lớp, còn đàn ông có trách nhiệm thì đốt đuốc tìm cũng không thấy, thì đấy có thể gần như là nhiệm vụ bất khả thi.

Kay S. Hymowitz là cộng tác viên khoa học của viện Manhattan và là bình luận viên của tờ City Journal, tác phẩm mới nhất của bà: Marriage and Caste in America: Separate and Unequal Families in a Post-Marital Age.

Rick Santorum: Không!

Trên thực tế, phải có nền tảng đạo đức thì thị trường mới có thể trở thành tự do thật sự, và đến lượt nó, thị trường tự do lại giúp củng cố nền tảng đạo đức. Nhưng thị trường tự do không phải là thiết chế bảo đảm cho đức hạnh. Môi trường văn hóa hiện nay cho thấy thị trường tự do có thể làm gia tăng những rủi ro về mặt đạo đức.

Tôi là một chính khách chứ không phải nhà kinh tế học, có người sẽ nghĩ rằng tôi không có đủ trình độ để trả lời câu hỏi này. Nhưng là một chính khách, tôi đã học được rất nhiều điều trong suốt những năm tháng mà tôi đã dành để thảo luận về tự do, đạo đức và kinh tế với hàng ngàn người Mĩ. Những trải nghiệm này đã dạy tôi rằng quan trọng nhất trong thuật ngữ “thị trường tự do” là từ “tự do” – rằng thị trường tự do là vấn đề chính trị và đạo đức chứ không chỉ là vấn đề kinh tế.

Thị trường tự do phụ thuộc vào và tưởng thưởng cho một loạt phẩm hạnh của con người. Thí dụ, những người hoạt động trên thương trường phải rèn tập tính thận trọng – sự cẩn thận, khả năng nhìn xa trông rộng và tìm được cách áp dụng tốt nhất các nguyên lí chung vào từng hoàn cảnh cụ thể. Những người hoạt động trên thương trường phải hứa và giữ lời hứa, ngay cả khi do tính toán sai lầm mà giữ lời hứa sẽ làm cho mình bị thiệt. Những thói quen như thế làm gia tăng vốn xã hội, mà đấy chính là “chất bôi trơn” tốt nhất của cơ chế thị trường.

Thành công trên thị trường tự do phụ thuộc vào sự cần cù và chu đáo. Một người lười biếng và không chú tâm vào công việc mình làm sẽ chẳng thể tồn tại được lâu trong thương trường. Hơn nữa, việc tham gia trực tiếp vào thị trường tự do giúp củng cố tinh thần tự lực tự cường và chủ nghĩa cá nhân lành mạnh. Những người tham gia trên thương trường sẽ có thói quen nhìn các vấn đề như là cơ hội và giải quyết các vấn đề đó bằng sức lực của chính mình

Nhưng đây là rắc rối thứ nhất. Những người phê bình thường lên án thị trường tự do và động cơ kiếm lời là chủ nghĩa cá nhân ích kỉ, bệnh hoạn, đặt quyền lợi của mình lên trên tất cả mọi thứ và coi thường trách nhiệm đối với xã hội. Nhưng chủ nghĩa cá nhân lại hoàn toàn tương thích với tình đoàn kết trong xã hội và sự quan tâm bất vị lợi đối với những người khác. Trên thực tế, chủ nghĩa cá nhân lành mạnh là niềm tin của cá nhân vào khả năng của mình trong việc nuôi sống mình và gia đình mình cũng như thực hiện những thay đổi xã hội cần thiết – đấy chính là điều kiện tiên quyết của tình đoàn kết với những người cùng cảnh ngộ và tình thương đối với những người thiếu thốn. George Gilder đã khẳng định một cách đầy thuyết phục rằng những người hoạt động trong nền kinh tế thị trường vốn là những người nhắm tới mục đích phục vụ người khác: họ tìm ra những nhu cầu hợp lí của người khác và tìm cách đáp ứng những nhu cầu đó bằng những món hàng và dịch vụ hữu ích.

Mặc dù kinh tế thị trường thúc đẩy và tưởng thưởng cho nhiều phẩm hạnh của con người, nhưng chúng ta không được đánh đồng nó với lòng tốt và đức hạnh. Thứ nhất, thị trường không thể tồn tại nếu không có các tiêu chuẩn đạo đức làm nền tảng cho nó, không có các quyền và trách nhiệm, thí dụ như quyền sở hữu và quyền trao đổi một cách hòa bình. Nhiều nhà kinh tế học đã giải thích những vấn đề đạo đức căn bản như quyền sở hữu, trộm cắp là phi pháp và thậm chí cả tính bất hợp pháp của tình trạng nô lệ, xét từ quan điểm của “tính hiệu quả” của các những tiêu chuẩn như thế. Đấy là quyền của họ. Nhưng tự bản thân các nguyên tắc của thị trường tự do không thể sinh ra các tiêu chuẩn đạo đức làm nền tảng cho nó. Lí do là “tính hiệu quả” phụ thuộc vào quá trình trao đổi một cách tự nguyện và hòa bình, mà điều này lại phụ thuộc vào việc giữ gìn các nguyên tắc đạo đức đã có bằng những những phương tiện của luật pháp và xã hội.

Thứ hai, mặc dù thị trường tự do có thể giúp củng cố lòng nhân ái và đức hạnh, nhưng nó hoàn toàn không phải là thiết chế buộc người ta phải giữ gìn đạo đức. Các nhân tố của thị trường như động cơ kiếm lời có thể vượt quá giới hạn và trở thành ưu tiên cao nhất, dẫn tới lòng tham và tính ích kỉ. Giải pháp không phải là lên án thị trường mà là hướng những người tham gia quan tâm đến việc phục vụ người khác cả bên trong lẫn bên ngoài những cuộc trao đổi kinh tế và biết cách cân bằng giữa lợi nhuận và tính tư lợi với gia đình và các nhu cầu của xã hội, cũng như củng cố lòng tin giữa người với người và những lợi ích xã hội khác. Ngoài ra, nguyên tắc kiếm lời căn bản của thị trường là phục vụ nhu cầu của người khác có thể dẫn đến những vấn đề rắc rối, nếu đấy là những “nhu cầu” xấu xa. Mặc dù những người hoạt động trên thương trường không phải áp đặt chủ nghĩa khổ hạnh (nguyên văn Thanh giáo [Puritanism] – ND) lên những người tiêu dùng và khách hàng của họ, nhưng có những trường hợp khi mà lợi nhuận có thể mâu thuẫn với đức hạnh.

Từ mâu thuẫn này có thể thấy một câu hỏi tổng quát hơn về thị trường tự do: bản thân tự do có làm băng hoại các giá trị đạo đức hay không? Nhìn vào tình trạng đáng buồn của nền văn hóa Mĩ hiện nay, người ta có thể vô tình mà muốn trả lời rằng: “Có”. Chúng ta thường xuyên bị bỏ bom bằng những con số thống kê đáng sợ về tình trạng suy đồi đạo đức, từ phim ảnh đồi trụy và ngoại tình cho đến sử dụng chất ma túy và tội phạm. Sự suy đồi này là kết quả của sự thoái hóa của chính khái niệm tự do, tự do ở đây được coi là tự do khỏi trách nhiệm, là phóng túng, là tự do muốn làm gì thì làm, bất chấp hậu quả mà mình gây ra cho người khác.

Các nhà lập quốc Mĩ coi tự do như là quyền tự do có mục tiêu, hướng tới một cái gì đó quan trọng hơn là tính ích kỉ, nó khác hẳn với quan niệm của nền văn hóa bình dân (pop-culture) hiện nay, khác hẳn với việc coi tự do là tự do khỏi mọi ràng buộc đối với những ham muốn và thèm khát tức thời. Giáo hoàng John Paul II đã phân biệt một cách chính xác giữa quyền tự do thật sự, tức là quyền tự do làm điều cần làm và bằng biện pháp sao cho có thể sử dụng được tài năng và hoàn cảnh đặc thù của bạn – đấy là tự do trong các phương tiện – với quyền tự do sai lầm, tức là tự do làm tất cả những gì mình muốn, dù mục đích và dục vọng có thấp hèn đến đâu – đấy là tự do trong mục tiêu. Con người được thiên nhiên phú cho mục đích và những thiện ý, đấy không phải là những thứ mà chúng ta có thể định nghĩa rồi tái định nghĩa theo ý riêng của mình được. Chúng ta phát đạt không phải là khi chúng ta làm bất kì điều gì mình muốn lúc đó mà là khi chúng ta chọn lựa những điều tốt đẹp hơn và mục tiêu dài hạn hơn. Muốn phát đạt theo cách đó thì phải ép mình vào kỉ luật và có khả năng sáng tạo nữa.

Rút cục lại, ở nước Mĩ hiện nay chúng ta thường xuyên thấy quan niệm sai lầm về tự do, quan niệm coi tự do là sự phóng túng, muốn làm gì cũng được, đã dẫn tới việc coi thường đạo đức và luật pháp. Trên thực tế, xu hướng này sẽ làm cho không gian tự do của chúng ta co lại, vì người ta sẽ trở thành nô lệ cho những đam mê của mình và cuối cùng là sẽ coi thường và vi phạm các quyền và quyền tự do của người khác. Quan niệm về tự do một cách phóng túng như thế sẽ làm tổn hại đến hoạt động bình thường của thị trường tự do, vì thị trường tự do phải dựa vào tính trung thực, lòng tin, tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự chủ, biết đặt ra và gắn bó với những mục tiêu dài hạn, thì mới hoạt động được.

Thị trường tự do không làm băng hoại đạo đức, mặc dù nó có thể làm gia tăng khả năng xuất hiện một số vấn đề về mặt đạo đức. Và mặc dù chắc chắn là thị trường tự do đóng vai trò quan trọng trong việc cổ vũ đức hạnh, cũng cần phải có những gia đình và cộng đồng gắn bó thì mới có thể thúc đẩy được những đức tính tốt đẹp và quyền tự do mà thị trường tạo ra cho người ta. Tương tự như những khía cạnh khác của xã hội công bằng và tự do, thị trường tự do phụ thuộc vào đạo đức của từng cá nhân – phụ thuộc vào khả năng chế ngự những đam mê và bốc đồng ích kỉ của chúng ta, phụ thuộc vào khả năng lựa chọn những mục tiêu mà Tự nhiên và Thượng đế đã ban cho chúng ta.

Rick Santorum, từ năm 1991 đến 1995 là hạ nghị sĩ, còn từ năm 1995 đến năm 2007 là thương nghị sĩ Mĩ, đại diện cho bang Pennsylvania. Hiện nay ông là bình luận viên của tờ Philadelphia Inquirer và là cộng tác viên khoa học của Trung tâm đức dục và chính sách công ởWashzngton, D.C.


[1] Theo Kinh Cựu Ước, Gomorrah là thành phố của Palestine, ổ gần Sodom; người dân ở hai thành phố này sống quá phóng túng, trụy lạc, cho nên đã bị Chúa Trời thiêu hủy.

Phạm Nguyên Trường

Nguồn: vanchuongviet.org

From → Thảo luận

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: