Skip to content

Liên Xô – Nhà nước phong kiến trá hình (Kì 10)

Tháng Chín 9, 2011

Chương 10. Luật hình sự

Chính sách về hình pháp

Lịch sử của “chính quyền Xô viết” là một chuỗi dài, không thể nào kể hết, những tội ác chống lại nhân dân, là một vụ diệt chủng thật sự mà Hitler không thể nào so sánh được. Thực chất nó là một chính quyền tội phạm. Danh sách những tội ác mà nó đã phạm ở nước ngoài cũng dài vô tận (Hungary, Tiệp Khắc, Ba Lan, Afghanistan, các nước vùng Baltic…)

Thu nạp cống vật là bản chất của hệ thống phong kiến được che đậy bởi mẽ ngoài “xã hội chủ nghĩa” này. Vì vậy, từ quan điểm pháp lí, tất cả những “nhà hoạt động Đảng và nhà nước” được đưa vào hệ thống đều là những kẻ ăn hối lộ, những tên tội phạm. Không phải vô tình mà sau những cuộc cách mạng dân chủ ở Đông Âu vào mùa thu năm 1989, người ta được biết rõ những vụ ăn cắp và hối lộ ở ngay những cấp lãnh đạo cao nhất. Gần như ở đâu cũng đòi đưa các nhà lãnh đạo cũ ra tòa.

Việc giới tội phạm và bộ máy Đảng-nhà nước thâm nhập vào nhau là điều đương nhiên. Ngay chính Shelokov khi vừa nắm được bộ Nội vụ đã ban hành nhật lệnh nội bộ (dĩ nhiên là không được công bố) trong đó có nói đến một sự kiện mà nay ai cũng biết, đấy là sự liên kết giữa bộ máy cảnh sát với giới tội phạm [1] .

Các nhà khoa học Xô viết xuất phát từ luận điểm cho rằng pháp luật là công cụ của giai cấp cai trị nhằm nô dịch nhân dân lao động. Chính sách hình pháp của Liên Xô khẳng định luận điểm này ngay từ khi nó mới được thành lập. Mặc dù người ta luôn tuyên bố ngược lại rằng hình luật là phương tiện bảo vệ nhân dân, chống lại một nhúm những kẻ bóc lột.

Không thể kìm được bất bình khi nói đến “tội lỗi” của nhân dân. Ngay cả bây giờ, trong “giai đoạn cải tổ” mà hàng ngàn người vẫn bị kết án theo điều 198 bộ Luật hình sự: “vi phạm chế độ hộ khẩu”, nghĩa là sống không hộ khẩu, trái hẳn với điều 13 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền mà Liên Xô đã hứa tôn trọng (mãi cuối năm 1991 điều 198 mới bị bãi bỏ).

Hàng chục ngàn người đã bỏ xác trong các trại cải tạo vì “tội” đó, cũng như vì không có mặt tại vị trí công tác 21 phút, hàng chục ngàn người đã bị bắn vì đi mót những bông lúa rơi trên đồng sau vụ thu hoạch [2] !

Sau chiến tranh “luật bảy phần tám” [3] đã mất hiệu lực và nghị định của Chủ tịch đoàn Xô viết Tối cao Liên Xô ngày 4 tháng 6 năm 1947 (dân chúng gọi đơn giản là nghị định) “với mục đích tăng cường cuộc đấu tranh chống ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” đã qui định mức án tù đến 25 năm. Hàng đoàn người nối đuôi nhau vào trại giam không hẹn ngày về. Như một bài hát trong trại giam ngày đó:

Đi về Bắc cực… Thời hạn cao su…

Phải luôn nhớ rằng nhà tù là một loại xí nghiệp xã hội chủ nghĩa làm theo kế hoạch, các xí nghiệp này cần thường xuyên bổ sung nhân lực. Để làm được như thế, nhà nước phải giữ cho tình trạng tội phạm luôn ở một mức nhất định. Vì vậy khi kế hoạch của các xí nghiệp bị đe dọa, thí dụ, sau vụ ân xá nhân dịp 70 năm Cách mạng Tháng Mười (tạp chí Ngọn lửa nhỏ, số 32, năm 1988), người ta phải bắt đầu chiến dịch “đấu tranh với tội phạm”, cảnh sát bắt người với đủ lí do, tòa án đưa ra “thời hạn” và kế hoạch đã được hoàn thành.

Nhưng trong “giai đoạn cải tổ” thì tội phạm hoành hành khắp nơi. Không chỉ dân chúng mà nhà nước cũng phát hoảng. Các nhà “tội phạm học” Xô viết cho rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa Marx đã không còn giá trị nữa. Chủ nghĩa Marx khẳng định rằng điều kiện xã hội là nguyên nhân của tội phạm. Các nhà khoa học thường nói rằng ở nước ta điều kiện phát sinh tội ác đã không còn, tội ác chỉ là “tàn dư của quá khứ”. Nhưng là một người duy vật, tôi cho rằng tội phạm gia tăng một cách khủng khiếp như hiện nay là do:
sự tan rã một cách toàn diện hệ thống kinh tế xã hội của đất nước và sự phân hóa xã hội mà ai cũng biết (trừ các nhà khoa học): sự bần cùng hóa của công nhân và nông dân cùng với sự giàu lên đột ngột của tầng lớp cán bộ và giới mafia trong lĩnh vực công-thương nghiệp;
sự phá sản của hệ tư tưởng cộng sản, một chân không đạo đức là kết quả của cuộc đấu tranh chống lại tôn giáo;
sự hợp nhất của bộ máy nhà nước với giới tội phạm, sự phát triển của tội phạm có tổ chức và mafia;
hệ thống nhà tù và “hộ khẩu” đảm bảo tạo ra những kẻ tái phạm và bổ sung cho thế giới tội phạm có tổ chức những tên tội phạm ngày càng chuyên nghiệp hơn [4] .

Những người mác-xít hoàn toàn có lí khi cho rằng luật hình sự mang tính giai cấp. Tính giai cấp thể hiện trong toàn bộ hình pháp, trong quan điểm xét xử, trong việc thi hành án v.v… Hình pháp và luật hình sự có mục đích bảo vệ giai cấp cầm quyền, đe dọa và đàn áp các tầng lớp cần lao. Tôi hi vọng rằng điều này đã được chứng minh trong các chương trên, nhưng nó còn rõ ràng hơn khi ta xem xét luật hình sự và đặc biệt là sự tùy tiện và phi pháp diễn ra trên thực tế hàng ngày.

Ở Ashkhabad (Turkmenia) đã tổ chức một phiên tòa điển hình [5] , xét xử một nhân viên bán hàng tên là Mamedorazova. Chị ta được xác định có tội là đem giấu dưới gầm bàn (không phải là ăn cắp mà chỉ là cất đi cho khách quen) mấy chiếc tất liền quần của trẻ con (báo Sự thật thanh niên, ngày 31 tháng 10 năm 1982)! Trong khi đó tầng lớp cán bộ, các nhà lãnh đạo nước cộng hòa và những công hầu khanh tướng của họ chia nhau hàng triệu rub công quĩ mà không việc gì.

Việc đưa ra tòa những tên ắn cắp và những kẻ nhận hối lộ giữ chức vụ cao là chuyện hi hữu và thường thì đấy là kết quả của những cuộc tranh chấp giữa các vương tôn. Chúng ít khi bị đem ra tòa, tòa mẫu thì lại càng hiếm vì những kẻ chiến thắng cũng chẳng muốn “vạch áo cho người xem lưng”. Dưới thời Brezhnev người ta đã phát hiện ra những vụ “chạy” đặc xá của Nasriddinova, “tổng thống” Uzbekistan, nhưng bà ta chỉ bị giáng chức xuống làm .. bộ trưởng! Báo chí đã viết công khai và khá rõ về việc nhận hối lộ của các ủy viên Bộ chính trị như Grishin (Moskva), Romanov (Leningrad), Aliev (Azerbaizhan), Demirtran (Armenia), Kunaev (Kazakhstan) và những người khác, nhưng cũng chẳng ai dám động đến họ và họ vẫn sống vui vẻ trong các biệt thự của mình (biệt thự của Kunaev ở gần ngay bức tượng được dựng khi ông ta còn sống) và còn được nhận lương hưu đặc biệt nữa. Medunov, đầu Đảng của những kẻ ăn hối lộ miền Nam nước Nga còn được nhận một căn hộ ở Moskva (dĩ nhiên là không phải xếp hàng) và an hưởng tuổi già thật xa những nơi ông ta từng hoạt động trước đây.

Ngay cả tội lỗi của các viên chức cấp thấp hơn cũng thường được bao che, kéo dài và được cho “chìm xuồng”. Chỉ những trường hợp chẳng đặng đừng, thí dụ, có người chết, thì họ mới bị đem ra xét xử và án phạt cũng thường rất nhẹ [6] .

“Người thường” thì lại khác. Vụ án “những người tạo mẫu” được báo chí nói đến rất nhiều có thể được coi là vụ điển hình. Nội dung vụ này như sau: tại một nhà máy ở Moskva có mấy người thợ tạo mẫu tay nghề rất cao (phải có các mẫu bằng gỗ với độ chính xác rất cao thì mới có thể đúc được các linh kiện kim loại). Các nhà máy khác cũng đặt mẫu ở đây và thường thì các đơn hàng này đều thuộc loại khẩn cả (thí dụ khi một linh kiện bị hỏng mà không thể mua được, phải tự làm), đơn giá là của nhà nước, nhưng đây là những đơn giá đặc biệt. Chắc là những người thợ này có thu nhập khá, có kẻ nào đó ghen ăn tức ở đã báo cáo lên trên. Viện kiểm sát khởi tố vụ án và xác định là các bị can đã ăn cắp tổng cộng 260.738,99 rub! Chính xác đến thế là cùng! Với số tiền “ăn cắp” lớn như thế, họ bị xử theo điều 93 bộ luật hình sự với mức hình phạt là 8 đến 15 năm tù và có thể tử hình (mức nào thì cũng kèm theo tịch thu tài sản). Giám đốc các xí nghiệp đặt hàng đã làm chứng tại tòa và khẳng định rằng những người thợ này đã cứu xí nghiệp của họ, rằng nếu không có những người thợ khéo tay như thế thì nhà nước đã bị thiệt hại rất lớn, số tiền họ trả là rất nhỏ, không thể nào so sánh được với thiệt hại có thể xảy ra nếu không có những người thợ ấy… Vô ích! Các quan tòa kiên quyết đứng về phía quyền lợi của nhà nước và mặc dù một bị can có nhiều huân huy chương trong cuộc chiến tranh vệ quốc, ba người công nhân vẫn bị xử với những mức án 8, 12 và 14 năm tù giam (tôi không biết họ bị bắt khi nào, nhưng tòa án thành phố Moskva phán quyết vào ngày 4 tháng 8 năm 1981).

Cần phải xem xét trường hợp này một cách thật cẩn thận vì nó như một giọt nước phản ánh toàn bộ sự phi lí và tính giai cấp của nền tư pháp Liên Xô: bên đặt hàng kí hợp đồng chính thức với nhà máy, chính giám đốc xí nghiệp kí hợp đồng, dự toán và đơn giá do phòng tài chính kế toán lập. Mấy người công nhân này lĩnh tiền từ thủ quĩ theo bảng lương, mà họ chỉ được một phần, phần lớn hơn (75%) thuộc về nhà máy và được đưa vào công quĩ. Không một cán bộ lãnh đạo nào của nhà máy bị đưa ra tòa cả.

Tại sao lại là ăn cắp? Phi lí chứ còn gì nữa! Đúng, phi lí đối với những đất nước bình thường, với những con người bình thường, với nhận thức pháp lí bình thường, với nền luật pháp bình thường!

Nhà văn Burkovski đã nói rất đúng: “Chả lẽ đời sống ở Liên Xô lại là thực ư, chả lẽ Liên Xô không phải là một thế giới điên rồ tưởng tượng, nơi có những người Xô viết bịa tạc đang xây dựng chủ nghĩa cộng sản huyền hoặc, sinh sống ư?”

Mãi đến ngày 4 tháng 12 năm 1986 tòa án Tối cao Liên Xô mới hủy bỏ bản án “những người tạo mẫu” (Bản tin của tòa án tối cao, năm 1987, số 2). Như vậy là mấy người thợ này đã bị “ngồi” (thực ra là họ không ngồi mà phải làm) tù 6 năm! Chẳng vì lí do gì!

Những người quen bảo vệ và biện hộ cho “chủ nghĩa xã hội” sẽ nói rằng đây là một trường hợp đặc biệt. Vâng, đây là một trường hợp đặc biệt, nhưng nó đặc biệt chỉ vì hoàn toàn vô tình mà hội thẩm nhân dân trong vụ này là một nhà báo, một người có tư duy bình thường chứ không phải là một luật sư. Vì anh nhà báo này kịch liệt phản đối bản án nên bị cho ra rìa và được thay bằng một hội thẩm nhân dân “gật” khác (giới tội phạm gọi hội thẩm nhân dân là “bọn gật”). Nó đặc biệt vì tờ Báo Văn học đã tham gia vào cuộc đấu tranh gian khổ và kéo dài, từ lúc kết án cho đến khi bản án bị hủy bỏ. Điều đó càng chứng tỏ rằng đây là một vụ án rất bình thường vì việc hủy bỏ bản án đã phá hỏng thực tiễn pháp lí do tòa án Tối cao đặt ra! Tòa án tối cao hủy bỏ bản án, nhưng như thường thấy ở nước ta, để không phải trả tiền đền bù cho những năm tháng tù đày vô cớ, tòa lại gán cho những người công nhân tội theo điều 153 bộ luật hình sự (hoạt động kinh doanh tư nhân). Không thể nào giải thích cho người ngoại quốc hiểu được tội này là gì; đây chính là “cải cách kinh tế” đang được người ta cổ động hiện nay và cho ra tù vì “đã chấp hành đủ thời hạn của bản án” theo điều luật này. Có thể gọi là “hoạt động kinh doanh tư nhân” trong khi người ta làm việc tại nhà máy và lĩnh lương từ thủ quĩ được ư? Phi lí đối với một luật sư bình thường! Nhưng đối luật sư Liên Xô thì không.

Không phải hàng trăm mà là hàng ngàn vụ như thế (theo tuyên bố của Borovski, Chủ tịch Đảng tự do kinh tế, thì hiện có 127 ngàn người bị kết án những tội tương tự như thế, những tội mà hiện nay được coi là hoạt động kinh tế thị trường bình thường). Một nhà báo kể lại rằng tài liệu về hàng trăm vụ án kiểu đó chất đầy bàn viết của anh ta. Một trong những vụ nổi tiếng và có tiếng vang là vụ án giám đốc một nông trường ở Kazakhstan tên là Khudenko. Nhận làm giám đốc một nông trường đang thua lỗ, Khudenko đã biến nó thành ra có lãi, thu nhập của người lao động tăng lên rõ rệt. Tờ “Báo Văn học”, ngày 21 tháng 5 năm 1962 đã có bài ca ngợi ông ta (đấy là thời “tự do” dưới trào Khrushchev). Khudenko bị khởi tố ngay khi báo phát hành, người ta định khởi tố cả tác giả bài báo nữa. Nhưng sau khi được tha, Khudenko đã đòi đền bù. Viện kiểm sát lại khởi tố và Khudenko đã chết trong tù (Báo Văn học, ngày 21 tháng 1 năm 1987)!

Goriatrkin, làm chủ tịch nông trang (tỉnh Moskva) năm 1962 khi nông trang này nợ nhà nước 300 ngàn rub. Trong các năm 1964-1966 nông trang này có tổng số lãi là 1.381 ngàn rub. Goriatrkin và ba người nữa bị bắt, họ bị giam 10 tháng trước khi ra tòa và bị kết án “ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”. Thế đấy, trước khi bị ăn cắp nông trang nợ đìa, sau khi bị ăn cắp nông trang thành ra có lãi! Ngay người lính áp giải cũng phải thốt lên: “Họ là những tên ăn cắp thì rõ rồi, nhưng tôi cũng không hiểu họ ăn cắp cái gì nữa? (Tin tức, ngày 3 tháng 6 năm 1967). Thực ra là Goriatrkin đã tổ chức một xưởng sản xuất phụ, đơn giá tiền lương ở đây cao hơn đơn giá của nhà nước. Thu nhập của công nhân cao… đến… 300 rub! Trong 3 năm chênh lệch so với đơn giá của nhà nước là 36 ngàn rub. Và đây chính là “vụ ăn cắp”! Xin nói thêm rằng nông trang là tập thể, là người chủ, vì sao ông chủ lại phải trả lương cho công nhân theo đơn giá nhà nước?

Giukov, chủ nhiệm một hợp tác xã đánh cá (tỉnh Novorossisk) đã làm cho hợp tác xã thành ra có lãi cũng bị kết án “ăn cắp” mặc dù tất cả nhân chứng đều khẳng định rằng ông ta không bỏ túi một xu nào (nghĩa là ông đã không cống nạp lên trên). Tòa án Tối cao đã xử trắng án, nhưng ông ta cũng đã ngồi tù khá lâu (Báo Văn học, 14 tháng 1 năm 1987).

Bản án của một vụ tương tự đã ghi rằng: “Kẻ biển lận không hề thu được một chút lợi ích kinh tế nào” (Báo Văn học, ngày 14 tháng 1 năm 1987).

Những vụ án như thế xảy ra vào giai đoạn “cải tổ” của Khrushchev, khi một số người tin rằng hệ thống đã thay đổi, sáng kiến có thể phát huy và biến chuyển có thể xảy ra.

Những vụ án như thế diễn ra suốt những năm đó, khi mà lãnh đạo Đảng và nhà nước trên thực tế đã cướp bóc đất nước một cách trắng trợn mà không hề chịu bất kì sự trừng phạt nào.

Tuy vậy, những vụ án phi lí như thế cho ta thấy rõ một qui luật chính trị, một sự liên quan của chúng với hệ thống những quan hệ lao động cưỡng bức, với sự độc quyền của nhà nước trong việc áp đặt đơn giá tiền lương thấp. Bất cứ người lãnh đạo nào có ý định thiết lập một hệ thống khác, bất cứ người nào có ý định nâng lương cho người lao động đều bị coi là kẻ phá hoại hệ thống lao động cưỡng bức và đe dọa sự tồn vong của chế độ. Đấy là lí do vì sao có hàng ngàn vụ án và tại sao một tờ báo ở trung ương phải đấu tranh với tòa án Tối cao suốt 6 năm trời mà vẫn không chứng minh được cho các luật sư rằng “những người tạo mẫu” không hề ăn cắp gì cả.

Tất cả các vụ án đều được nặn ra theo sơ đồ sau: “Người ta áp ‘tiêu chuẩn và đơn giá thống nhất’ lên công việc thực tế đã hoàn thành. Ở đâu mà chả có chênh lệch và đấy chính là ăn cắp… Từ cách tính như thế, điều tra viên rút ra kết luận: ‘công việc thực tế đã hoàn thành là 10.628 rub, nhưng lại nhận những 13.626 rub, như vậy số tiền bị ăn cắp là 12.628 rub’. Xin độc giả hãy giải bài toán mẹo này. Xin hãy xem xét thật kĩ sự phi lí này. Nhưng đấy chính là bản luận tội (Tin tức, ngày 25 tháng 9 năm 1987). Mức độ chính xác của bản luận tội không phải là điều mà các điều tra viên, công tố viên và tòa án quan tâm. Họ chỉ cần biết rằng can phạm đã trả hoặc đã nhận nhiều hơn “đáng lẽ phải thế” là đủ. Điều này quả thật rất tai hại cho nền kinh tế “xã hội chủ nghĩa”, nhưng chính sách như thế bảo đảm cho sự an toàn của chế độ, bảo đảm sự an toàn cả quyền lẫn tiền cho bộ mày Đảng. Và tất cả đều biết: cần phải trừng phạt, còn nó có phù hợp với luật pháp hay không không phải là điều quan trọng. Trong các văn phòng của bộ máy từng có câu nói vui: “Hãy đưa cho chúng tôi một người, chúng tôi sẽ tìm cho anh ta điều khoản áp dụng [7] ”.

Thật khó xác định “chỉ thị” không được có các vụ xử trắng án được đưa ra từ bao giờ, vì cũng như đã nói bên trên về nguồn gốc này của pháp luật Liên Xô, “chỉ thị” thường là miệng, không được thể hiện trong bất cứ tài liệu nào và còn bị phủ nhận một cách công khai nữa. Tôi cho rằng “chỉ thị” được đưa ra vào khoảng những năm 60 của thế kỉ trước, đấy là sau chiến dịch ngưng hàng loạt các vụ án hình sự và giao những tên tội phạm cho các đơn vị “bảo trợ”, tội phạm thì gia tăng mà số nhân công trong các trại giam lại giảm mạnh.

Lí do của “chỉ thị” là như sau: pháp luật Liên Xô là hiện thân của công lí và công bằng. Tuyên một người vô tội thì chẳng hóa ra đã khởi tố người ta một cách “oan uổng” ư. Không thể có chuyện đó [8] ! Nhưng chỉ thị như thế là hoàn toàn trái pháp luật cho nên khó mà tìm được chúng trong sách báo công khai hồi đó, chúng chỉ có thể vô tình lọt lưới kiểm duyệt và biên tập viên mà thôi. Sau năm 1985 có thể tìm được khá nhiều các “chỉ thị” như thế, nhưng tất cả đều ở thời quá khứ.

Vì vậy việc khởi tố một người cũng đồng nghĩa với việc kết tội người đó. Các “ma cũ” trong các trại tạm giam thường khuyên “ma mới” nhận ngay: “nhận ngay thì nhẹ”. Các điều tra viên cũng nói ngay từ đầu như thế. Cũng vì lí do đó mà người ta còn khuyên không nên kháng cáo.

Đây là một vụ điển hình: một phụ nữ bán căng tin tên là Zina Teliakova mất tích (kèm theo 600 rub của căng tin). Sách hình sự dạy rằng các vụ giết người mất xác thường là do những người thân cận thực hiện, mùa xuân năm đó người ta phát hiện được xác một phụ nữ đang thối rữa trên con sông gần đấy. Thế là rõ! Mẹ chồng và chồng của bà Zina tên là Alekseiev bị kết án 5 năm tù. Từ trong tù Alekseiev gửi ra 800 là đơn kêu cứu với tiếng thét: “Zina còn sống! Hiện ở tỉnh Stalingrad!”, nhưng như tờ báo đã viết: “chỉ một lá đơn có kết quả”, đấy là theo kháng nghị của công tố viên, Tòa án Tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa liên bang Nga đã tái thẩm bản án và… TUYÊN ALEKSEIEV 10 NĂM TÙ GIAM! Những người khác trông gương đó mà đừng kháng án nữa! Sau khi mãn hạn [9] , Alekseiev tìm được địa chỉ vợ cũ và lại viết đơn, lần này thì ông được minh oan!

“Những người bảo vệ” pháp luật có chịu trách nhiệm gì không? Viện trưởng viện kiểm sát tỉnh Tambov bị cách chức… và (xin đừng lo!) chuyển sang làm viện trưởng tỉnh Voronezh. Chánh án tòa án tỉnh bị cảnh cáo nhưng chức vụ thì vẫn giữ nguyên. Một số người khác cũng bị cảnh cáo.

Trừng phạt thực sự có thể làm tan vỡ cái hệ thống vừa được mô tả. Chúng ta sẽ còn có dịp nói đến qui luật của của những hành động như thế.

Có những vụ mà ngay chính các quan tòa “chuyên ăn theo nói leo” như thế cũng không thể kết tội. Khi đó họ sẽ chuyển về viện kiểm sát để điều tra thêm và viện này sẽ ra lệnh chấm dứt vụ án [10] . Nhưng chấm dứt điều tra cũng có nghĩa là bên kiểm sát có lỗi cho nên họ sẽ giữ lại một thời gian (trong khi nghi can vẫn ngồi trong trại) và chuyển lại cho tòa án. Việc “đá bóng” như thế cứ tiếp tục mấy lần, và kết quả phụ thuộc vào việc phía nào, viện kiểm sát hay quan tòa có thần kinh và “chân gỗ” vững hơn. Chứ không phải là bản chất vụ án.

Ông A. M. Iakovlev, một trong những cây đại thụ của khoa pháp luật, “đại biểu” Xô viết Tối cao Liên Xô, nhân thảo luận về việc các tòa án thường không tuyên bố trắng án đã nói đến tính dã man của các bản án (tất nhiên không phải là những bản án dành cho tầng lớp “cán bộ”): “Xu hướng đưa ra các bản án nặng có thể giải thích được (?): chẳng ai muốn bị phê bình là theo phái tự do (bạn có thấy không? Thẩm phán sợ bị phê bình là theo phái tự do! Mà là các thẩm phán độc lập đấy! – tác giả) hay là khuyến khích bọn tội phạm. Các thẩm phán dù không muốn (?!) cũng thường đưa ra các bản án theo khung hình phạt cao nhất”. Iakovlev còn nói rằng các bản kiểm điểm của thẩm phán có mục đặc biệt gọi là … số vụ có thời hạn tù ngắn. “Số vụ như thế càng nhiều thì thẩm phán càng bị đánh giá thấp” (Báo Văn học, ngày 24 tháng 9 năm 1986). Ai có thể đánh giá được công việc của các thẩm phán độc lập? Iakovlev không nói rằng sự nghiêm khắc của hình phạt chỉ áp dụng cho “dân thường”, nhưng số vụ xử “cán bộ” nói chung là hãn hữu. Nhận thức pháp lí của vị luật sư đầu ngành này cũng đáng quan tâm: ông ta nói về các “tòa án cấp trên”, tức là những tòa án có nhiệm vụ “theo dõi” tòa cấp dưới (đã được nói đến bên trên); ông ta cũng nói rằng vì không nghe lời “anh hai” mà chánh tòa bị đưa hạ bậc thành thẩm phán thường, nhưng ông ta chỉ phê bình những sự kiện đơn lẻ chứ không phê phán hệ thống phụ thuộc của các thẩm phán nói chung.

Đã thảo luận về chính sách hình sự thì không thể không nói đến công tác điều tra, một trong những mắt xích quan trọng của hệ thống khủng bố. Xin bắt đầu bằng tình hình của các điều tra viên. Công việc của họ phải nói là vô cùng nặng nề nhưng lương lại rất thấp. Cùng một lúc một người phải xử lí hàng chục vụ, trong đó có các vụ án kinh tế (chiếm đoạt, ăn cắp .v.v..), cần thẩm vấn hàng trăm nhân chứng, phải nghiên cứu hàng đống tài liệu, phải giám định và kiểm kê tài sản. Điều tra tất cả các vụ một cách nghiêm túc nắm ngoài khả năng, ngay cả về mặt sức khỏe. Thế mà thời hạn điều tra vụ án và chuyển sang tòa là tiêu chí quan trọng để đánh giá một điều tra viên. Lối thoát duy nhất của điều tra viên là kết thúc thật nhanh các vụ án và leo lên các cấp cao hơn. Anh ta lại còn biết rằng cấp trên cũng muốn như thế, nếu có gì thì sẽ được cấp trên bao che. Và mọi phương tiện, kể cả đánh đập, tra tấn, đều tốt, miễn là được việc.

Hai trẻ vị thành niên, dưới áp lực của điều tra viên, đã khai nhận những vụ ăn cắp mà chúng không hề thực hiện. Như báo chí đã viết: “Có những lời khai như thế là do cơ quan điều tra sử dụng những biện pháp đáng bị điều tra”. Khi thấy vụ án bị “vỡ” (thuật ngữ chuyên môn), chủ tọa phiên tòa đã tuyên bố nghỉ giải lao… 44 ngày! Bản án tuyên: một đứa 7 năm tù, đứa kia 4 năm. Thực ra chúng đã ăn cắp nhưng phần lớn là do người ta “đeo” (cũng là thuật ngữ chuyên môn) cho chúng. Chủ tọa phiên tòa cũng nhận ra điều đó, thế nhưng ông ta lại giải thích với phóng viên: “Không được để tồn đọng nhiều vụ ăn cắp như thế” (Báo Văn học, ngày 11 tháng 6 nắm 1986). Đấy chính là sự “hợp tác” giữa cảnh sát, viện kiểm sát và tòa án nhằm “cải thiện” số liệu thống kê về tội phạm: số vụ “được khám phá” tăng lên. Nhưng xin hãy tưởng tượng số phận những đứa trẻ vị thành niên mà tuổi trẻ sẽ trôi qua trong trại cải tạo chỉ vì những vụ ăn cắp mà người ta cố tình vu cho chúng. Chúng có mang ơn xã hội không?

Đấy là thực tế quen thuộc đối với người dân Liên Xô, điều đó thể hiện rất rõ qua lời “bà hội thẩm nhân dân” của tòa án Tối cao Latvia. Lời bà này đã lan truyền đến tận hang cùng ngõ hẻm Liên Xô, nhưng trước khi trích dẫn xin được kể về hoàn cảnh phát sinh lời phát biểu nổi tiếng ấy.

Ba chàng trai bị bắt vì một vụ hiếp dâm mà chính họ không thực hiện. Một người chứng minh được tình trạng ngoại phạm. Vì bị tra tấn hai anh chàng kia “nhận”, người ta còn “tìm” được nhân vật thứ ba: sau vài tháng anh này cũng “nhận”. Nhân vụ này chính quyền muốn chứng tỏ cho dân chúng thấy khả năng làm việc tuyệt vời của mình nên đã cho quảng bá rộng rãi trên báo chí, TV, đài phát thanh. Nhân Ngày cảnh sát, một số cảnh sát “có công” còn được gắn huân, huy chương, cả người làm chứng (dĩ nhiên là chứng dối) cũng được… khen thưởng nữa.

Các chàng trai hi vọng người ta sẽ xử công khai và họ sẽ phủ nhận “lời khai”, sẽ kể về việc bị tra tấn. Độc giả có thể tưởng tượng được những ngón đòn tra tấn vì mức án có thể là tử hình! Chưa nói đến sự kinh tởm của chính tội lỗi! Một người đã cố chứng minh rằng anh ta chưa hề bao giờ có mặt tại nơi xảy ra vụ án, nhưng vô ích. .. Không ai thèm nghe! Dư luận xã hội đã được chuẩn bị kĩ lưỡng và đang khao khát báo thù. Các luật sư “đã giúp đỡ việc luận tội (có câu ngạn ngữ: “Luật sư là công tố viên thứ hai”). Một người bị kết tội tử hình, hai người bị án tù dài hạn. Công chúng hoan hô khi nghe xong bản án.

Rất may là án tử hình chưa kịp thi hành: kẻ thủ ác thực sự đã thú nhận. Không ai tin! Người ta không muốn tin! Mất nửa năm kiểm tra, trong khi mấy anh chàng kia vẫn nằm trong trại. Nhưng rồi người ta cũng buộc phải minh oan cho họ.

Chỉ vì vụ án đã được quảng bá quá rộng rãi, sự thất bại cũng có tiếng vang không kém cho nên những kẻ có tội trong vụ việc này đã bị khởi tố. Trong quá trình điều tra, người ta đã hỏi “bà hội thẩm nhân dân nọ: “Bà có nghe thấy can phạm nói bị tra tấn không?”. Và bà ta trả lời: “Không đánh thì ai người ta nhận”. Thế mà bà ta vẫn làm hội thẩm ở tòa án Tối cao đấy (Báo Văn học, ngày 17 tháng 12 năm 1986).

Grant, chủ tọa phiên tòa đó bị bãi chức và đưa…, bạn cho là đưa đi đâu? Đưa về hội luật gia! Và hội luật gia “độc lập” đã kết nạp ông ta vào đại gia đình luật sư! Nhưng sự thật là sau này ông ta đã bị khai trừ khỏi hội.

Nhưng dù sao thì kết quả của vụ án này cũng là không bình thường. Bình thường thì những người gây ra những vụ án oan không bị trừng phạt. Bạn không tin tôi ư? Vậy xin hãy tin ông Terebilov, chánh án tòa án Tối cao Liên Xô (ông này đã bị cho về vườn vì đã cố ý tiết lộ những hành vi không lương thiện); khi được hỏi đã khởi tố bao nhiêu vụ án hình sự chống lại những người “bảo vệ pháp luật” khi họ cố tình tạo ra những vụ án oan như thế thì ông ta đã trả lời một cách ngắn gọn: “Không có vụ nào!” (Báo Văn học, ngày 17 tháng 12 năm 1986)

Câu hỏi này được đặt ra nhân một vụ án ồn ào khác (được gọi là vụ Viteb). Tại tỉnh Viteb có 36 phụ nữ bị hiếp rồi bị giết. 14 người bị kết án cả thảy! Một người bị bắn! Một người được tha trước thời hạn, ông ta bị mù khi ngồi tù. Một người chấp hành án tù đủ 10 năm. Những người khác thì được tha sau khi kẻ thủ ác thực sự bị bắt. Nhưng tất cả 14 người kia đều “nhận tội [11] ”!. Sau này báo chí đã viết về những vụ tra tấn: những người vô tội bị đập đầu vào tủ sắt, bị đá giầy đinh vào mặt, một người còn bị nện bằng… tập Bộ luật hình sự Bạch Nga vào đầu [12] ! Đúng như người ta nói, đưa luật pháp vào cuộc sống! Ngay các “nhân chứng” cũng bị tra tấn: một trẻ vị thành niên bị người ta nắm lấy chân và dốc ngược đầu xuống đất (Báo Văn học, ngày 3 tháng 3 năm 1983). Dĩ nhiên là những người bị tình nghi này đã hi vọng vào một phiên tòa trung thực và nhân ái… Vô ích…

Rất nhiều vụ án như thế [13] . Đa số bị lật tẩy một cách tình cờ. Tại sao lại có thể khẳng định như thế? Thứ nhất, nhiều trường hợp được minh oan (có người được minh oan sau khi đã chết) không diễn ra như trong vụ Viteb (nhờ vào kết quả làm việc thận trọng của điều tra viên); thứ hai, tôi hiểu rõ cách thức tiến hành công việc.

May mắn ở đây là tôi không phải trình bày việc đó bằng ngôn ngữ của mình mà xin được ghi lại lời của cây bút chuyên về luật pháp trên tờ Tin tức (những chỗ chấm chấm không phải của tôi): “Có một vụ án nghiêm trọng. Người ta cho gọi viện trưởng viện kiểm sát và giám đốc công an (xin lưu ý: không nói ai gọi, ai có quyền gọi những người ấy – tác giả) và ra lệnh: “Phải tìm bằng được, phải vô hiệu hóa… Nếu không…”. Những người này lại hạ lệnh như thế cho cấp dưới, đến lượt mình cấp dưới lại… Và thế là họ đã tìm được. Nhưng không phải lúc nào cũng là kẻ cần tìm” (Tin tức, ngày 20 tháng 2 năm 1987). Tác giả bài báo đã cố tình “thả khói”: dường như người ta “đòi hỏi” phải tìm được tội phạm thật. Rõ ràng là “anh hai” (chính tác giả bài báo có ý nói thế) không mạo hiểm, ông ta không hạ lệnh tìm “bất cứ người nào”. Nhưng “anh hai” biết thực tế không kém gì tôi. Ông ta cần “khép vụ án” lại. Bằng bất cứ giá nào. Tất cả “những người bảo vệ pháp luật” đều biết như thế. Vì vậy khi vụ án bị “vỡ” thì “anh hai” sẽ bảo vệ các công hầu của mình đến cùng, trong trường hợp không được thì đổ tất cả tội lỗi cho họ.

Những vụ có án tử hình bao giờ cũng được xử ở tòa án Tối cao nước cộng hòa hay tòa án Tối cao Liên Xô. Bạn nghĩ rằng những quan tòa kinh nghiệm như thế không nhìn thấy sự giả mạo ư? Họ nhìn thấy hết. Xin dẫn ra ở đây bằng chứng do O. Temushkin cung cấp: ông ta kể lại rằng phó chánh án tòa án Tối cao Liên Xô tên là V. Smolensev đã kháng nghị bản án tử hình Babaev và Kuliev vì cho rằng bản án này trái luật, nhưng kháng nghị không được xem xét. “Tôi xin mở bức màn bí mật”, Temushkin nói, “Aliev, lúc đó là bí thư thứ nhất ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Azerbaizhan, đã sử dụng tất cả ảnh hưởng của mình, ông ta gọi điện thoại nhiều lần cho L. Smirnov, chánh án tòa án Tối cao Liên Xô (hiện đã ra người thiên cổ) và các nhà lãnh đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật khác. Tôi đã vô tình chứng kiến một cuộc nói chuyện như thế: ông ta trắng trợn yêu cầu không can thiệp vào vụ Babaev. “Chỉ thị qua điện thoại” đã phát huy tác dụng. Hai người đã bị bắn” (Tin tức, ngày 5 tháng 1 năm 1989).

Như vậy là bộ máy Đảng, với đúng nghĩa của từ này, đã tổ chức những vụ thủ tiêu những người mà họ không ưa, còn các điều tra viên, thẩm phán, luật sư, các cơ quan “bảo vệ pháp luật” thì đóng vai những tên đâm thuê chém mướn. Tất cả những người ấy đều là Đảng viên cộng sản hết.

O. Temushkin còn thuyết phục độc giả: “Tôi không bao giờ quyết án mà chỉ căn cứ vào lời thú nhận của bị cáo”. Nói dối! Ông ta sẽ quyết nếu người ta ra lệnh như thế, bản án của Siniavski và Daniel đã chứng tỏ điều đó. Nhưng các điều tra viên và thẩm phán thì không đơn giản như thế. Temushkin biết rõ “lời khai đã được củng cố” như thế nào. Đấy là chưa nói đến các “nhân chứng” (bên trên đã kể họ được “chuẩn bị” như thế nào), các bị cáo, sau khi đã bị đánh đập, được đưa tới hiện trường vụ án và các điều tra viên sẽ chỉ cho họ cách họ “phạm tội”. Sau đó (các) bị cáo sẽ tự làm lại ngay trước mặt những người làm chứng. Tất cả đều được chụp ảnh hoặc quay phim, những người làm chứng sẽ phát biểu tại tòa và tất cả các “bằng chứng” này sẽ được đưa vào hồ sơ để gửi lên tòa phúc thẩm. Vì vậy trong hồ sơ vụ án bao giờ cũng có đủ thứ “bằng chứng” được thu thập “đúng qui định”, nhất là những vụ có án tử hình, chứ không bao giờ lại chỉ gồm mỗi “lời thú nhận” của bị cáo như Temushkin nói. Nhưng các thẩm phán có kinh nghiệm sẽ nhìn thấy ngay sự giả mạo, cũng như khán giả nhìn thấy cách trang trí và đóng kịch trên sân khấu, họ biết rằng Otello không giết Desdemona và cả hai sẽ ra chào khán giả ngay khi vở diễn kết thúc. Nhưng trong phiên tòa phong kiến lời khai của bị cáo được coi là bằng chứng không thể chối cãi, phiên tòa dưới chế độ Xô viết thì cũng thế [14] .

Xin xem xét cách người ta buộc nghi can “thú nhận”.

Nhà báo Iu. Feofanov, tác giả bài báo trên tờ Tin tức đã dẫn, hỏi các bị cáo rằng họ có bị đánh không? Không. Thế tại sao các anh lại nhận? Thế ông có biết TTG là gì không?, một bị cáo hỏi lại. Feofanov phải tự đi tìm hiểu: “Trại tạm giam là một phòng chật chội, chỉ có giường không, sát bên là các thứ “tiện nghi”, không chăn chiếu gì hết, sáng và chiều được phát một mẩu bánh mì, trưa thì được ăn nóng. Mỗi ngày là 30 xu. Lúc thì nóng như thiêu như đốt, lúc thì lạnh cắt da, đấy là nói nếu cửa sổ bị vỡ vào tháng Chạp. Mà khi bị bắt thì có được thay quần áo đâu, có thế nào mặc vậy (một người tên là Khatrmanukiana chỉ có một chiếc áo sơ mi…). Có thể chịu đựng được trong mươi hôm. Đấy là cách tác động rất có hiệu quả, tác giả viết: “Không cần đánh đập … người ta sẽ nhận hết, miễn là được đưa đi”.. Và tác giả nhấn mạnh: “Đây là phương pháp được luật pháp công nhận, bằng cách làm như thế người ta có thể buộc một công dân bất kì thú nhận những gì điều tra viên cần, theo những căn cứ đã nói bên trên có thể bắt giam bất cứ người nào. Và làm với họ bất cứ chuyện gì vì theo điều 120 bộ luật hình sự thì luật sư không được tham gia vào quá trình điều tra”. Feofanov kể tiếp rằng có ba người “ngoan cố” vượt qua được giai đoạn đầu tiên, điều tra viên đưa họ vào nhà giam thêm một năm rưỡi nữa, “không phải là không thể làm khác, mà vì có thể làm như thế. Vì pháp luật cho phép làm như thế”. Feofanov bảo: “Không có logic nào, không có pháp luật nào có thể biện hộ cho cách lấy cung như thế trong giai đoạn điều tra ban đầu”.

Đấy là bước đầu của việc lấy cung. Những điều kiện phi nhân trong giai đoạn tạm giam là những ngón đòn tra tấn thật sự không chỉ đối với nghi can mà còn đối với cả những “nhân chứng” không muốn cung cấp, nói như Feofanov, bằng chứng “cần thiết”. Một người bình thường, đặc biệt là người già, người bệnh (thí dụ, bệnh tiểu đường mà lại không có thuốc) bị ném vào trại tạm giam với những tên tội phạm thực sự, phải nằm trên những chiếc giường trống như thế sẽ không có cách nào khác hơn là nhận hết, miễn là được đưa ra tòa với hi vọng là có thể chứng minh mình vô tội.

Bước thứ hai: tra tấn về tâm lí, dọa nạt, bắt bớ bạn bè và người thân. Các kiểm sát viên to tiếng kết tội các điều tra viên là Gdlian và Ivanov (không biết rằng như vậy là gián tiếp kết án chính mình vì điều tra được tiến hành dưới sự giám sát của viện kiểm sát). Tôi tin những lời kết án như thế vì họ được dạy tiến hành điều tra theo cách đó, họ không biết cách nào khác, đấy là một cách làm bình thường. Và sự kiện là nhiều vụ án bị “vỡ” thì lỗi không chỉ là do những người bảo trợ cho những kẻ ăn hối lộ mà còn là do thói quen của các điều tra viên muốn tòa án chấp nhận “những bằng chứng nhận tội”.

Bước thứ ba: tra tấn. Từ khi bắt đầu “công khai” nhiều sự kiện như thế đã được viết trên báo. Những vụ tra tấn dã man, đánh đến dập thận, đánh đến vỡ gan, đánh đến chết… Chuyện đó thường hay xảy ra trong quá trình điều tra tại trụ sở cảnh sát. Những điều tra viên ở viện kiểm sát thận trọng hơn, họ luôn giữ được “bàn tay sạch” bằng cách sử dụng những tên tội phạm cùng phòng giam, những kẻ được hứa hẹn đủ điều.

Đại tá Shvelev, trưởng phòng điều tra hình sự tỉnh Irkusk kể lại mối nguy hiểm mà nghi can phải chịu như sau. Khi điều tra một vụ án, ông đã thâm nhập vào một băng mafia gồm các quan chức của bộ máy Đảng và giới tội phạm chuyên nghiệp nhưng nhận ra rằng người ta cũng đang thu thập tài liệu chống lại ông. Shevelev liền bỏ chạy và trốn trong rừng taiga ba năm liền. Ông nói: “ủy ban cần phải bỏ tù tôi, trong tù họ có thể sử dụng bọn tội phạm và muốn làm gì tôi thì làm, kể cả giết” (Tin tức, ngày 5 tháng 12 năm 1988).

Viện kiểm sát Cộng hòa xã hội chủ nghĩa liên bang Nga khi điều tra vụ Mamedov (1987) người bị giam ở phòng giam đặc biệt số 90 tỉnh Astrakhan đã phát hiện ra rằng anh ta bị đánh gãy cẳng chân và một xương sườn. Kẻ đánh Mamedov và các tù nhân khác lại chính là V. Bogdanov, “một kẻ có nhiều tiền án, vì lí do nghiệp vụ (!) đã được giam cùng phòng với các phạm nhân bị giam lần đầu, điều này được pháp luật hiện hành về công tác nghiệp vụ của Bộ nội vụ cho phép. Nhưng hắn được giam ở đây quá 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực” (tác giả gạch dưới). Nói cách khác, đáng lẽ phải đi đày thì Bogdanov được giữ lại để “giúp đỡ’ điều tra viên, nghĩa là đóng vai một tên đao phủ [15] .

Cần phải nói thêm rằng việc bắt và giam trong các phòng đặc biệt có thể kéo dài hàng năm, mặc dù lúc đó thời gian giam theo luật là rất ngắn [16] .

Việc sử dụng những tên tội phạm trong giai đoạn “HỎI CUNG BƯỚC BA” không phải là điều xa lạ đối với tòa án Tối cao Liên Xô, nhưng tôi chỉ tìm được một tài liệu chứng minh: ngày 22 tháng 9 năm 1987 tòa án Tối cao Liên Xô đã hủy bản án của tòa án tỉnh Irkusk ngày 25 tháng 4 năm 1985 (xin tính xem người ta phải tù bao lâu trong khi ngành tư pháp bò!) về vụ án 3 người phạm tội hiếp dâm và giết người vì “đã sử dụng những các biện pháp trái pháp luật trong quá trình điều tra”. Các bị cáo đã phản cung vì họ đã khai như thế “dưới tác động của những kẻ bị giam cùng phòng là T., Tr., và Kh.”. Các thẩm phán cao cấp không viết rõ “tác động” này là gì, có thể họ cho rằng chúng ta sẽ tự đoán được vì nếu công nhận thì ba người kia có thể bị kết án tử hình. Kh. còn viết rằng anh ta “theo sự phân công của cơ quan điều tra, quả thật đã tác động lên B. và anh ta được nghe điều tra viên của viện kiểm sát và nhân viên phòng hình sự kể cho nghe về vụ án”. Đấy chính là bí ẩn của cơ quan điều tra Liên Xô, bí mật đối với báo chí, nhưng lại có thể chia xẻ cho những người “gần gũi về mặt giai cấp”! Trong bản nghị quyết này không có một lời lên án nào đối với những người cố tình gây ra vụ án oan.

Và vụ án vẫn chưa chấm dứt, hồ sơ được trả về để điều tra lại từ đầu (Bản tin của tòa án Tối cao Liên Xô, năm 1988, số 1, trang 25). Còn ba nghi phạm thì tiếp tục ngồi tù [17] .

Đấy là một thí dụ giấy trắng mực đen chứng minh về quan hệ giữa pháp luật và thực tế, về chính sách về hình luật đã nói đến bên trên, một chính sách tạo ra chế độ khủng bố, độc đoán, có mục đích đè bẹp ngay từ trong trứng nước bất kì ý tưởng chống đối nào.

Còn 2 kì nữa

[1]”Thế giới công khai” điều khiển thế giới tội phạm thông qua các kênh mà trước đây KGB lãnh đạo bọn tội phạm có tổ chức” (Tin tức Moskva, số 52 ngày 29 tháng 12 năm 1991).
[2]”Các Đảng viên xã hội” không tin những người “bôi đen chủ nghĩa xã hội”. Xin dành cho họ “luật bẩy phần tám- 7/8” hay tên chính thức là Nghị quyết liên tịch của Ban chấp hành trung ương và Hội đồng dân ủy Liên Xô ngày 7 tháng 8 năm 1932: “Về việc bảo vệ tài sản xí nghiệp quốc doanh, tài sản của nông trang và hợp xã và củng cố sở hữu xã hội (xã hội chủ nghĩa)”. Trong lời nói đầu các nhà làm luật viện dẫn “yêu cầu của công nhân và nông dân” về việc “trộm cắp” của “các phần tử lưu manh và nói chung là các phần tử phản xã hội”, và đây là lần đầu tiên người ta sử dụng thuật ngữ “thiêng liêng và bất khả xâm phạm” đối với tài sản xã hội chủ nghĩa. Những kẻ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa bị coi là “kẻ thù của nhân dân”.

Phần đặc biệt lại gồm ba mục. Mục thứ nhất nói về việc trộm cắp hàng hóa trong quá trình vận chuyển. Mục thứ hai nói về trộm cắp tài sản của nông trang và hợp tác xã. Phần thứ ba, đúng hơn là không liên quan đến nội dung bộ luật; mục này qui định hình phạt cho “những phần tử phản xã hội”, những kẻ “buộc” xã viên ra khỏi nông trang hoặc hợp tác xã, nghĩa là những người chống lại việc áp đặt chế độ chiếm nô. Hai phần trên được qui định hình phạt như sau (xin trích dẫn): “xử bắn, kèm theo tịch thu toàn bộ tài sản hoặc trong trường hợp có các tình tiết giảm nhẹ thì phạt tù thời hạn ít nhất là mười năm (thời hạn tù dài nhất lúc đó – tác giả) kèm theo tịch thu tài sản”.
Điều 48 bộ luật hình sự liệt kê các tình tiết gỉam nhẹ, “số lượng không lớn” không nằm trong các tình tiết này. Trong luật không nói đến số lượng đồ vật bị mất cắp. Vì vậy khi áp dụng luật, quan tòa phải xử bắn, không phụ thuộc vào số lượng tài sản bị mất cắp. Hơn nữa, tòa án Tối cao Liên Xô lập tức giải thích rằng rằng luật ngày 7 tháng 8 bao gồm tất cả các điều khoản của bộ luật hình sự, liên quan đến việc “xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa” (kể cả điều 162 bộ luật hình sự, nói về các vụ ăn cắp vặt). Stalin, với tâm lí thô lậu của một bạo chúa phương Đông, cho rằng xử bắn có thể giải quyết được tất cả, nhưng khi bắn đã quá nhiều mà nạn ăn cắp vẫn không giảm thì người ta đành phải cài số lùi, tòa án Tối cao Liên Xô đưa ra giải thích mới, phủ nhận giải thích cũ, các vụ ăn cắp vặt lại xử theo điều 162 bộ luật hình sự, còn “luật ngày 7 tháng 8” thì chỉ áp dụng cho các vụ ăn cắp lớn, mặc dù trong thời kì chiến tranh nó được áp dụng, thí dụ, cho trường hợp hai người ăn cắp một bao bột, giá nhà nước lúc đó dưới 10 rub (Nghị quyết tòa án Tối cao Liên Xô ngày 12 tháng 2 năm 1942).

[3]tức là công bố vào ngày 7 tháng 8 năm 1932, 7/8- ND

[4]L. Nikitinsky, trong phóng sự về các nhà tù dành cho trẻ vị thành niên, viết rằng không thể giữ được tính người trong hệ thống này, nó biến người ta hoặc thành chó sói hoặc thành cừu: “Bước vào đây là những đứa trẻ ăn cắp vặt, nhưng đi ra là những tên sát nhân đầy thù hận”. L. Nikitinsky trong bài Vô giới hạn. Tạp chí Ngọn lửa nhỏ, năm 1988, số 32.

[5]Các phiên tòa điển hình là một thiết chế của “nền tư pháp” Liên Xô ngay từ khi nước này mới được thành lập. Đây không chỉ là những vụ án chính trị nổi tiếng. Mỗi thẩm phán đều có trách nhiệm tiến hành các vụ xử ở các câu lạc bộ, phòng truyền thống, trong nhà náy, tại nơi làm việc hay nơi cư trú của phạm nhân. Vì vụ án có tính chất điển hình và “có ý nghĩa giáo dục” (xin nhắc lại rằng D. Khazard cho rằng đây là điểm tích cực của luật pháp Liên Xô), nên nhất định nó phải có tính cách kết án. Trong các phiên tòa như thế, kể từ thời Khrushchev, ngoài công tố viên của nhà nước còn có công tố viên “xã hội” tham gia nữa. Việc để luật sư biện hộ hay công tố viên “xã hội” tham gia theo điều 250 bộ luật hình sự là quyền của chánh án. Về khả năng tham gia của cả luật sư lẫn công tố viên thì luật không nói. Nhưng ý nghĩa của nó vẫn là: thể hiện quan điểm của tập thể, của xã hội. Dĩ nhiên là không thể có hai quan điểm được, cho nên việc chánh án cho công tố viên “xã hội” tham gia (có trường hợp mấy người cùng tham gia) thì ta có thể nói quan điểm của chánh án đã rõ ngay trước phiên tòa rồi.

[6]Trung úy cảnh sát T., đi trên xe riêng, không mặc sắc phục, suýt nữa thì gây tai nạn với công nhân D. Anh này gọi viên cảnh sát là “đồ lừa”. Viên trung úy liền lôi người công nhân vào đồn và khởi tố vụ án hình sự với tội danh càn quấy. Tòa kêu án hai năm tù giam. Tòa án tỉnh bác bỏ bản án, nhưng cảnh sát T. vô can (Tin tức, ngày 23 tháng 2 năm 1974).

Viên giám đốc nhà máy (tỉnh Mitrurinsk) gây tai nạn, trong tình trạng say rượu với một công nhân, anh này bị thương nặng và chết vào tháng 12 năm 1982. Sau đó một năm, nhờ báo Sự thật tố cáo vụ bao che tòa án mới xử. Sau đó kẻ gây tai nạn vẫn làm việc ở nhà máy cũ, tuy đã không còn là giám đốc nữa. Giám đốc một cửa hàng (ở Rostov) đi trên xe Volvo và gây tai nạn chết người. tòa phạt tù… người lái xe tải có mặt tại hiện trường sau đó ít phút. Hai năm sau người lái xe mới được minh oan và kẻ gây tai nạn thực sự mới bị kết án (Báo Văn học, ngày 31 tháng 8 năm 1983).

Bí thư thứ nhất thành đoàn thành phố Volgagrad tên là Novikov gây tai nạn làm chết một người. Cảnh sát kết luận rằng chính nạn nhân có lỗi. Sau này mới biết rằng Novikov là đầu đảng một nhóm chuyên cướp các cửa hàng ở tỉnh bên cạnh ngay trên chính cái xe Volga đã gây ra tai nạn với người xấu số nói trên (Nước Nga Xô viết, ngày 16 tháng 4 năm 1986)

Sebrinsh, chuyên viên của văn phòng Hội đồng bộ trưởng Latvia, gây tại nạn trong tình trạng say rượu, làm chết một người đang đi xe đạp vào năm 1983. Vụ án được khởi tố rồi hủy bỏ mấy lần. Tháng 1 năm 1984 viện kiểm sát Liên Xô thụ lí vụ án. Phiên tòa vào năm 1984 tuyên án tù treo (Tin tức, ngày 4 tháng 6 năm 1986). Thành phố Novgorod: Antonova, kế toán một liên hợp chế biến thịt mang ra ngoài 3 túi thịt ngon. Khi bị giữ bà ta la lớn: “Chồng tao sẽ cho chúng mày biết!”.
Chồng bà ta là trưởng phòng thuộc sở công an tỉnh. tòa án khu vực khởi tố vụ án, nhưng viện kiểm sát tỉnh hủy bỏ (Nước Nga Xô viết, ngày 15 tháng 3 năm 1987).

Có hàng trăm các vụ việc do các “ngôi sao thể thao” gây ra. Nhưng họ thường thoát, ngay cả những vụ nghiêm trọng nhất vì được nhiều “fan” cao cấp chống lưng.

[7]Bài báo trên tờ “Tin tức” về kế hoạch của cảnh sát trong việc “trồng người” vào trại giam và trại lao động cải tạo có tên “Có người là có điều khoản áp dụng” (Tin tức, ngày 30 tháng 3 năm 1989). Bốn năm “cải tổ” của Gorbachev.

[8]”Tuyên trắng án” là thóa mạ công tác của các “cơ quan bảo vệ pháp luật” và làm mất uy tín của các cơ quan đó (Báo Văn học, ngày 13 tháng 10 năm 1971).

“Nhân danh cái gì mà tòa loại bỏ khái niệm bản án vô tội?” (Tin tức, ngày 25 tháng 7 năm 1985).
Các công tố viên đã “quên” cách viết những bản án vô tội rồi. Bản án cuối cùng mà họ nhớ, được tuyên ở Krasnoiarsky cách đây đúng 15 năm (Tin tức, ngày 24 tháng 5 năm 1986). Điều này trùng hợp với quan sát của tôi “… thời gian gần đây (!) đã xuất hiện những bản án vô tội” (Tin tức, ngày 12 tháng 5 năm 1988).

[9]Những tên cán bộ ăn cắp dù bị kết án cũng không bao giờ phải ngồi tù. Shakhverdiev, nguyên giám đốc sở thương nghiệp thị trấn Bataisk bị tuyên 10 năm tù giam nhưng đã ra tù một năm rưỡi sau đó. Krylov, “anh hai” của thị trấn đã “xin” cho ông ta. Hiện nay Krylov là thư kí công đoàn tỉnh (Báo Văn học, ngày 28 tháng 1 năm 1987).

Đa số những kẻ bị kết án nhiều năm tù giam trong vụ “Uzbekistan” đã được về nhà.

[10]Vì các điều tra viên trực thuộc viện kiểm sát và viện chịu trách nhiệm về công việc của họ nên hai bên bao che nhau trong việc che dấu khuyết điểm và tội phạm. Hiện nay người ta đang thảo luận: điều tra viên nằm trong cơ quan nào để đảm bảo rằng họ hành động một cách độc lập! Đúng là logic Xô viết!

[11]Vài thí dụ: Vì lấy hai lọ dưa chuột muối của mẹ vợ mà con rể bị một năm rưỡi tù giam. Một thanh niên bị hai năm tù giam vì không trả bạn đôi kính râm. Một phụ nữ bị một năm rưỡu tù giam vì lấy của bà bạn một túi nilon (Báo Văn học, ngày 24 tháng 8 năm 1986).
[12]Kĩ thuật như sau: đặt cuốn sách lên đầu rồi đấm thật mạnh. Không để lại dấu vết. Có thể giết người bằng cách đó. Không ai chịu đựng nổi.

[13]tòa án thành phố Moskva kết án A. phạm tội nghiêm trọng và tuyên 12 năm tù giam. Các nhân chứng phản đối, nhưng sau phiên tòa người ta đã sửa các bản cung của nhân chứng! Luật sư yêu cầu xem lại biên bản, nhưng yêu cầu bị bác. tòa án Tối cao hủy bỏ bản án vì biên bản đã bị chữa bằng loại mực khác (xin nói thêm là tại các phiên tòa người ta không ghi tốc kí. Biên bản do các thư kí viết. Việc các thẩm phán sửa biên bản là hiện tượng thường thấy. Vì vậy sau khi tòa kết thúc một số luật sư phải chụp ảnh ngay biên bản (Tin tức, ngày 17 tháng 11 năm 1964).
Lính cứu hỏa B. bị ngồi tù 10 tháng vì tội trộm cắp, mặc dù khi vụ mất cắp xảy ra thì anh ta đang trực ban. Vô tình mà người ta tìm được mấy tên trộm (Tin tức, ngày 1 tháng 7 năm 1969).
Krasnoiarsk. A. bị xử tử hình sau khi bị tra tấn và “thú nhận”. H. bị xử từ hình vì tội giết người trong tình huống tương tự (Nước Nga Xô viết, ngày 17 tháng 9 năm 1987).
Tỉnh Saratov. T. bị xử tử hình vì “tội giết hai người phụ nữ”. Sau này người ta đã tìm được kẻ sát nhân.
Tỉnh Novosimbirsk. Khrenov, một kẻ có nhiều tiền án, thụ án trong trại giam. Hắn thực hiện nhiều vụ hãm hiếp và giết người. Mấy người bị kết tội thực hiện các vụ giết người đó, trong đó có hai người bị xử tội giết vợ. Mãi năm 1987 Khrenov mới bị lật tẩy và bị tử hình (Nước Nga Xô viết, ngày 23 tháng 12 năm 1987).

[14]Feofanov, bình luận viên tờ Tin tức viết: “Các nhà lí luận và các nhà báo hãy vứt bỏ khái niệm “trọng chứng”. Đối với cơ quan điều tra thì quan trọng là lới thú nhận tội lỗi. Ngay cả những điều phi lí cũng được, miễn là nhận. Và điều đặc biệt là, có thể điều khủng khiếp nhất chính là không hề xảy ra một sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng nào trong quá trình điều tra (Tin tức, ngày 25 tháng 9 năm 1937).

[15]Công nhận rằng hiện nay không nghe thấy những chuyện như thế trong KGB, nhưng một cán bộ có trách nhiệm của KGB, thượng tá V. Koroliov, nói: “Những kẻ như Khvata (tên này đã tra tấn nhà bác học N. Vavilov, hiện nghỉ hưu) được coi là trong sạch. Các điều tra viên không đánh đập, không tra tấn, không hiếp phạm nhân, việc đó là do những tên chỉ điểm trong các buồng giam làm, chuyện này đã được nói tới trong tác phẩm: “Lời tự thú của một chỉ điểm” trên tờ Ngọn lửa nhỏ. Các cơ quan KGB, Bộ nội vụ và viện kiểm sát ở trung ương cũng như địa phương đều làm như thế cả. Vì vậy đáng ra bên cạnh Gdlian và Ivanov phải xử thêm nhiều “cán bộ pháp luật” khác nữa mới đúng. Gdlian và Invanov cũng như các nhân viên KGB trung thành với họ đã hành xử trong khuôn khổ của các quyết định và hướng dẫn nội bộ. Nhưng hiện nay người ta đã cố tình quên các văn bản này (Ngọn lửa nhỏ, 1990, số 43, trang 30).

[16]”Theo luật hiện nay giới hạn là 2 tháng. Ngoài ra thì là các “ngoại lệ”: viện trưởng viện kiểm sát tỉnh.. có thể kéo dài thành 3 tháng, nước cộng hòa đến 6 tháng, viện trưởng viện kiếm sát Tối cao đến 9 tháng. Thế hóa ra đây là giới hạn cao su”. Kẻ nào dám gọi luật pháp là “cao su”? Xin lỗi, đây là ông A. Buturlin, phó viện trưởng viện kiểm sát Cộng hòa xã hội chủ nghĩa liên bang Nga nói đấy (Tin tức, ngày 21 tháng 5 năm 1989). Có thể tin được. Nhưng ông ta không nói rằng việc kéo dài thời hạn như thế không phải do luật định mà là do “thực tiễn”, được Xô viết Tối cao thông qua.

[17]Xin đưa ra ở đây một văn bản nữa mặc dù chỉ có tính gián tiếp: Ngày 27 tháng 4 năm 1985 tại một ngôi nhà ở Armenia xảy ra một vụ cướp của giết người. A. X. một người bệnh có mặt trong ngôi nhà lúc xảy ra vụ án không bị đưa đi xét hỏi và chết vào đầu tháng 5. “Không có giám định y khoa tình trạng của A. X. Lúc nhập viện cũng như nguyên nhân cái chết của ông ta. Sáu tháng sau N. bị bắt và hai ngày sau “thú nhận” và bị tòa án Tối cao Armenia kết tội cướp của giết người, mặc dù anh ta khẳng định tại tòa rằng khi vụ án xảy ra anh ta có mặt tại một khu vực khác và các nhân chứng cũng đồng loạt khẳng định như thế. Tình trạng ngoại phạm không được kiểm tra. Chủ tịch đoàn tòa án Tối cao hủy bỏ bản án và cho điều tra lại (Bản tin của tòa án Tối cao Liên Xô, 1988, số 2 trang 46-48).

Xin phân tích trường hợp cụ thể này:

– Tại sao tòa án Tối cao Armenia và tòa án Tối cao Liên Xô không đặt câu hỏi vì sao N. lại thú nhận , trong một vụ án “tử hình”, nhanh chóng như thế? Câu trả lời đã rõ: họ biết vì sao.
— Tại sao không cho kiểm tra tình trạng ngoại phạm, chả lẽ các quan tòa lại kém đến thế? Vì sẽ phải đình chỉ vụ án và khởi tố các “cơ quan bảo vệ pháp luật”.

– tòa án tối cao Armenia có thể tự mình ra quyết định chấm dứt vụ án và không điều tra thêm. Tại sao họ không làm như thế mà vẫn bắt N. phải tạm giam tiếp? Để viện kiểm sát cho “chìm xuồng” mà không gây ra bất kì phản ứng nào.

Nguồn: Nguyên bản tiếng Nga: http://lit.lib.ru/t/tille_a/text_0010.shtml

Phạm Nguyên Trường

Nguồn: vanchuongviet.org

From → Thảo luận

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: